Thiên Chúa cho ai nhn biết Người?

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Như đă nói, thật là dại dột nếu muốn xem kư sự của thánh Matthêu như một phóng sự lịch sự tuyệt đối chính xác. Sự kiện đă xảy ra thật, được thánh chép sử- hoặc cựu truyền mà ông nhắc lại lồng trong một h́nh thái kư sự hoà hợp với văn hoá Cựu Ước và năo trạng người đương thời. Những sự kiện rất thật lẫn lộn với những yếu tố được rút ra từ kư ức tôn giáo của dân tộc và cả từ Kinh Thánh nữa. Đối với chúng ta, điều chủ yếu là thu lượm kư sự này lời giáo huấn mà thánh sử muốn truyền đạt. Vả lại ông cũng không chú ư đến sự kiện lịch sử v́ bản chất của nó, chỉ cốt soi sáng để làm nổi rơ tầm mức của sự kiện.

1) Sự kiện ba nhà Đạo sĩ đến thờ lạy ‘Vua của người Do Thái’ làm cho Hêrôđê động tính hiếu kỳ, rốt cục nổi giận, sự kiện đó cho thấy Đức Giêsu được thụ phong một vương quyền thời đó, thánh Matthêu đem đối chiếu thái độ các đạo sĩ nó tương phản với cách xử sự của Hêrôđê. Một bên là những người t́m kiếm Chúa – bên kia là một ông vua chuyên chế bị tư lợi và kiêu ngạo làm mờ mắt. Điều này mời chúng ta nhớ lại tính chất của Vương quyền Chúa. Chúa Kitô đă vâng lời cho đến chết, và v́ thế Người được Chúa Cha tôn vinh, và đă vào trong Vinh Quang Nước Người. Mọi vật điều suy phục Người, cho đến khi Người cùng với mọi tạo vật suy phục Chúa Cha, để Thiên Chúa nên tất cả trong mọi người. Người cũng thông ban cho các môn đệ quyền bính đó để họ được hưởng sự tự do vương giả và chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi họ, bằng một đời sống từ bỏ và thánh thiện, hơn nữa, để khi phụng sự Chúa Kitô nơi tha nhân, họ khiêm nhượng và kiên nhẫn dẫn đưa anh em ḿnh đến cùng Đức Vua, Đấng mà những kẻ phụng sự cũng là những kẻ thống trị có quyền bính. Triều đại Chúa là một triều đại của Chân Lư và sự sống của ân sủng và thánh thiện, của công lư t́nh yêu và hoà b́nh’ (Ánh sáng muôn dân, 36). Sự phủ phục của các đạo sĩ dưới chân Hài Nhi Giêsu nhắc chúng ta nhớ lại điều này: muốn nhận biết Thiên Chúa th́ phải ao ước thánh thiện, công lư, t́nh yêu và hoà b́nh. Ngược lại, hướng của Hêrôđê chứng minh rằng khi ḷng bị sa lầy trong tham vọng, khắc nghiệt, bất công, th́ trí sinh mù quáng.

2) Tại sao sau khi cho tin đúng, cấp lănh đạo dân tộc và những kư lục không chịu khó đi t́m ‘Vua của người Do Thái’. Chắc là v́ họ không cho rằng công phu t́m kiếm của các đạo sĩ là quan trọng. Có thể đây là hạng người thần cảm – họ nghĩ vậy – c̣n ḿnh là cấp hữu trách, ḿnh phải sáng suốt. Bất hạnh thay, lư trí họ đă biến thành chủ trương hệ thống hoá cứng rắn. Đa số trong bọn họ thành tâm muốn trung thành với Thiên Chúa, nhưng lại dựng lên giữa Thiên Chúa và họ một hệ thống chủ thuyết – lư luận, định kiến – hệ thống đó khiến cho trí tuệ họ không thể hấp thụ được cái chưa từng thấy, cái bất ngờ. Đó là t́nh trạng của bất cứ khoa học nào không quan tâm trước hết đến sự cởi mở do cầu nguyện đem lại. Càng thu thập về kiến thức vế trí tuệ, càng phải phát triển kiến thức về tâm hồn, là loại kiến thức giữ cho tâm khảm trong tư thế sẵn sàng nghênh tiếp những sự can thiệp của Thiên Chúa. Cấp lănh đạo dân Do Thái đă không nhận ra Đức Giêsu v́ họ muốn Đấng Cứu Thế hiển linh ở tŕnh độ họ, trong uy thế của quyền bính, thông tuệ, hành động. Nhưng Đấng Cứu Thế đó lại xuất hiện với nét mặt một đứa trẻ, con nhà nghèo. Những kẻ khiêm nhượng và những kẻ nghèo hèn đă nhận ra Ngài. Chúng ta tự hỏi: chúng ta đi t́m kiếm Đức Giêsu ở đâu?