Các bài suy niệm LỄ GIÁNG SINH – Năm B

Lời Chúa:

Lễ Đêm: Is 9, 2-4. 6-7; Tt 2, 11-14; Lc 2, 1-14

Lễ Rạng Đông: Is 62, 11-12; Tt 3, 4-7; Lc 2, 15-20

Lễ Ban Ngày: Is 52,7-10; Dt 1,1-6; Ga 1,1-18 hay Ga 1,1-5.9-14

SUY NIỆM

1. Sức mạnh - Lc 2,1-20

Có một người đi hành hương đất thánh, khi trở về, ông ta đă mua một bộ tượng sinh nhật gồm Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse. Thế nhưng, trước khi lên máy bay tại phi trường Tel Aviv, người ta đă kiểm soát từng bức tượng một, bằng quang tuyến X. Nhân viên hải quan đă xin lỗi và nói:

- Chúng tôi có nhiệm vụ bảo đảm rằng không hề có chất nổ trong những bức tượng này.

Lúc bấy giờ, ông khách hành hương đă thầm nghĩ:

- Phải chăng họ biết được rằng bộ tượng này c̣n chất chứa một năng lượng khả dĩ làm nổ tung cả thế giới. Vậy th́ nguồn năng lượng ấy là như thế nào? Đó không phải là nguồn năng lượng vô biên của Thiên Chúa, Đấng đă tạo dựng nên vũ trụ vật chất này trong thoáng chốc và có thể hủy diệt nó bằng một cái búng tay. Năng lượng mà ông khách hành hương muốn nói tới, chính là năng lượng của T́nh yêu mà Ngài đem theo khi đến với nhân loại trong đêm Sinh Nhật đầu tiên tại Bêlem.

Thực vậy, năng lượng ấy được gồm tóm trong Tin Mừng Giáng Sinh, trong sứ điệp mà Ngài muốn nhắn gửi chúng ta. Tin Mừng ấy, sứ điệp ấy như thế này:

- Thiên Chúa, mặc dầu là Đấng quyền năng vô song, nhưng đồng thời Ngài cũng là một người Cha đầy ḷng nhân từ và khoan dung, Ngài đă yêu thương và chăm sóc đến mỗi người chúng ta… Và để giải thoát chúng ta khỏi sự ḱm kẹp của tội lỗi, khỏi án phạt đời đời, Ngài đă sai chính Con Một Ngài xuống thế để ở cùng chúng ta và cứu độ chúng ta.

Tuy nhiên, để loan báo Tin Mừng ấy, để công bố sứ điệp ấy, Ngài đă không đến như một ông hoàng với cung điện lộng lẫy, với binh đội hùng mạnh, nhưng Ngài đă đến như một hài nhi bé bỏng và yếu đuối, con của một gia đ́nh nghèo nàn và túng thiếu. Ngài đă trở nên một người giống như chúng ta, cũng bơ vơ lạc lơng, cũng vất vả mệt mỏi, cũng biết đau, biết đói, biết khát… Cũng đă bị nhạo cười và hất hủi, thậm chí c̣n phải chịu một cái chết ê chề và nhục nhă nhất.

Khi đến, Ngài đă không được các vua chúa, các vị lănh đạo thế giới chào đón, mà chỉ được các mục đồng, những kẻ thuộc giai cấp thấp hèn nhất đến viếng thăm. Ngài đă đồng hóa ḿnh với những người nghèo khổ và túng thiếu, thậm chí ngay cả với những kẻ tội lỗi.

Những điều trên đây khiến chúng ta nghĩ tới quyền năng mà Ngài đem vào thế giới này. Bởi v́ tư tưởng và đường nẻo của Ngài không giống với tư tưởng và đường nẻo của chúng ta. Phải chăng đó chính là điểm đặc sắc, điểm thách đố mà mầu nhiệm Giáng Sinh đă gây nên. Sự thách đố này được diễn tả qua một bài thơ có nội dung như thế này:

- Khi ánh sao trên trời chợt tắt, khi các mục đồng và ba nhà đạo sĩ đă ra về, th́ công cuộc Giáng Sinh mới thực sự bắt đầu: để t́m lại những ǵ đă mất, để hàn gắn những ǵ đă rạn vỡ, để dựng lại những ǵ đă găy đổ. Người đói được ăn, kẻ khát được uống, tù nhân được giải phóng và ḥa b́nh thực sự trở về với mọi người.

Kể từ đêm Giáng Sinh đầu tiên cho tới ngày hôm nay, trải dài hơn hai ngàn năm, sức mạnh t́nh yêu của Thiên Chúa được biểu lộ nơi hài nhi Giêsu, không ngừng làm nổ tung và biến đổi bộ mặt thế giới. Sức mạnh ấy đă san bằng mọi giai cấp. Sức mạnh ấy đă phá đổ mọi bất công. Sức mạnh ấy đă giành lại những quyền lợi cho đàn bà và trẻ em. Sức mạnh ấy đă hủy diệt mọi thù oán…Tuy nhiên điều quan trọng hơn cả, đó là sức mạnh t́nh yêu của mầu nhiệm Giáng Sinh đă tác động như thế nào đến bản thân và đến cuộc sống riên tư của mỗi người chúng ta?


2. Suy niệm của R. Gutzwiller

NGÀY CHÚA GIÁNG SINH (2, 1-20)

Việc truyền tin Chúa Giêsu nhập thể đă là lạ lùng v́ tính cách trái ngược giữa vẻ khiêm hạ bên ngoài với sự cao cả bên trong. Tính cách trái ngược này lại c̣n lạ lùng và nổi bật hơn nơi việc Người sinh ra.

1) Chúa Giáng Sinh.

Việc Giáng Sinh không xảy ra tại Nagiarét như thường t́nh, nhưng là tại Bêlem, và không phải do một lời nói chính thức của thiên thần mà bằng mmột biến cố hoàn toàn trần thế, nghĩa là do sắc chỉ của Hoàng Đế Rôma. Như vậy Chúa Giêsu ngay từ ngày mở mắt chào đời đă tỏ ra phục luỵ quyền hành thế trần, như một kẻ yếu thế phải chịu khuất phục kẻ mạnh hơn. Tuy nhiên, đó là công việc của Thiên Chúa, v́ người ta sẽ thấy rằng ở đây hành động của con người không ai ngờ lại phục vụ cho kế hoạch của Thiên Chúa. Hoàng đế Augustô ra lệnh kiểm tra nhân số trong đế quốc lớn lao của ông để gom thế giới lại thành một, biết rơ quân số, bảo đảm được sự thu thuế mà ông cần dùng tới với những chương tŕnh vĩ đại của ông. nhưng thực tế, quyền năng thế tục đó bên ngoài h́nh như ḱm kẹp Chúa Giêsu, th́ chỉ là dụng cụ của quyền năng Thiên Chúa và qua đó, chương tŕnh Cứu độ được hoàn thành.

Như vậy Chúa Giêsu đă giáng sinh tại Bêlem trong thành cảu Đavít, như Tin Mừng đă nhấn mạnh điều đó. Chính nơi đây, Đavít khi c̣n là mục đồng, được gọi về hiến Thánh, th́ giờ đây, cũng chính ở đây, người con đích thực của Đavít lại sinh ra, Đấng chăn chiên thực sẽ chăn dẫn bầy chiên Thiên Chúa, Ngài là Đấng được ưu tuyển ngay trong bản chất thâm sâu của Ngài và như Đấng Messia, Đấng Thiên tử, Đấng được xức dầu.

Sắc lệnh của Hoàng đế Augustô c̣n kéo theo một hậu quả khác, đó là việc giáng sinh của Chúa Giêsu được tác thành và lồng vào lịch sử thế giới. Người ta xác định được nơi chốn và thời kỳ xảy ra việc đó. Đây là một biến cố lịch sử đích thực (chứ không phải là chuyện hoang đường hay thần thoại) có chỗ đứng trong không gian và thời gian. Bên cạnh Hoàng đế Augustô, muốn mang lại cho thế giới cơm no áo ấm, với thứ ‘hoà b́nh của Rôma’, th́ Chúa Giêsu đúng là vị Cứu tinh thực sự của vũ hoàn v́ đă mang đến ‘b́nh an của Thiên Chúa’.

Tuy thế, ở Bêlem, không c̣n chỗ cho Ngài, nên phải sinh trong chuồng ḅ lưà. Khi nói Chuá không có chỗ trong quán trọ, điều đó có thể hiểu là, thực sự th́ những người lang thang, không c̣n chỗ ở trong quán đó. Nhưng cũng có ư nói, và đúng hơn, quán trọ là nơi những người khách lạ tạm trú, th́ không phải là nơi xứng hợp đối với mầu nhiệm Thánh Chúa sinh ra. Vậy Chúa sẽ đến thế trần, không mái nhà, trong cảnh đơn côi và nghèo nàn của chuồng ḅ lừa. Nôi của Ngài là cái máng khô, đục vào ngay trong tảng đá để cho ḅ lừa ăn. Tin Mừng đặc biệt nhấn mạnh tới việc Hài nhi được bọc trong khăn. Cho thấy rằng bên cạnh cảnh nghèo hèn c̣n có nhân tính hoàn toàn, cùng với tất cả sự yếu đuối của tính con người.

Con đầu ḷng của Thiên Chúa, hay nói cho gọn là Con Một Thiên Chúa đă đến thế gian này như là một trẻ nhỏ. Khung cảnh thật đơn giản, thanh bạch, nghèo hèn. Sự đơn giản và nghèo hèn này ai sánh được; tuy vậy, lại chẳng có biến cố nào đáng kể hơn, và tất cả mọi phú túc sẽ được trao cho Đấng vừa sinh ra. Trước nhan Chúa, đâu cần vẻ hào nhoáng bên ngoài với tất cả những ǵ liên hệ tới nó. Mà phải trái lại, cái vẻ bên ngoài càng lui đi th́ mới càng thấy rơ vẻ lớn lao bên trong. Tất cả những ǵ phồn vinh, giả tạo, khoa trương, chỉ có bên ngoài thôi th́ đi ngược lại bản tính của Chúa Giêsu ngay từ giờ đầu tiên của ngày Giáng Sinh của Ngài cho tới lúc cuối cùng với cái chế nghéo hèn và trần trụi trên cây thập tự.

2) Loan báo tin Chúa Giáng Sinh.

Các mục đồng là những người đầu tiên nhận được sứ điệp. Israel là dân của các mục tử và Chúa Giêsu chính là Đấng chăn giữ nhân loại mới. Những hạng quyền quư sao hiểu được vẻ cao trọng này, người giàu th́ chạy theo của cải, c̣n người thông thái th́ lại hiểu sai về sự khôn ngoan của Thiên Chúa. V́ thế những người được gọi đầu phải là những người chăn chiên khiêm hạ, nghèo nàn, và là ít học chốn quê mùa.

Nội dung của sứ điệp là một lời loan tin vui tóm trong ba danh hiệu: Đấng Cứu Thế, Đấng xức dầu và là Chúa. Ngài là Đấng Cứu thế, v́ Ngài đến giải phóng những người không thể tự giúp ḿnh khỏi cảnh đau thương. Ngài là Đấng xức dầu v́ bản tính nhân loại của Ngài đă được thánh hiến bằng dầu Thánh của Thiên Chúa: Ngài trở thành Tư tế, tiên tri và Vua cả. Và Ngài là Chúa v́ mọi quyền năng trên trời dưới đất đă được ban cho Ngài.

Thật là một dấu chỉ lạ lùng: ‘Các ngươi sẽ thấy một Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ’. Điều nhỏ bé sẽ biểu thị vẻ lớn lao, yếu hèn –vẻ quyền năng và nghèo khổ– cảnh giàu sang. Việc Chúa Giêsu sinh ra làm đảo lộn những cái chúng ta đă biết cho tới khi đó, và làm biến đổi các thực tại thần thiêng nhờ các phạm trù khác và ứng dụng chúng vào các quy luật khác.

Sứ điệp kết thúc bằng ca khúc của các Thiên thần gồm hai phần, mà mỗi phần gồm ba yếu tố song song với nhau. Ở phần thứ nhất ta thấy có ‘trời, vinh danh và Thiên Chúa’. Phần hai có ‘thế trần, hoà b́nh và con người’.

Thiên Chúa ở trên trời sẽ đón nhận danh dự và vinh quang, v́ vinh quang của Ngài vẫn dấu kín, sẽ bộc lộ nhờ Con Ngài. C̣n chính Chúa Giêsu, mà mọi tác động của Ngài đều mang dấu vô biên sẽ có thể thực sự tôn vinh Thiên Chúa mà không một tạo vật nào có thể làm được. Bây giờ ở dưới thế, b́nh an sẽ ngự trị v́ trời và đất giao hoà trong ơn thánh. Và tất cả những điều ấy có được là do ḷng từ ái của Thiên Chúa ban cho nhân loại nhờ Thiên Chúa Nhập Thể.

Như vậy bài ca của các Thiên Thần là điệp ca trang trọng của Thánh vịnh về đời sống Chúa Giêsu, bài ca mang nặng ư nghĩa của một biến cố vĩ đại đang được thực hiện trên sân khấu cuộc đời này. Hơn cả một lời cầu chúc hay lời nguyện xin. ‘Chúc tụng Thiên Chúa’ đó là một lời loan báo và cũng là một lời tuyên ngôn vệ một sự kiện: vinh danh dâng lên Thiên Chúa và an b́nh ban xuống nhân loại. Giờ cứu độ đă điểm, công việc cứu rỗi đă bắt đầu v́ Chúa hoàn vũ đă sinh ra.

Và đây là kết quả đầu tiên, các mục đồng quyết định đón nhận lời loan báo trong niềm tin và đi theo lời đó. Sau khi t́m kiếm, họ đă thấy Đức Maria, Thánh Giuse, và Hài nhi. Sự kiếm t́m đă không bơ công; họ đă ngạc nhiên, đầy thán phục.

Qua sự im lặng, người Mẹ trẻ đă cho thấy sự hân hoan được diễn tả trong bài Thánh ca ngợi khen của Mẹ nay nhường chỗ cho một sự suy niệm đầy an b́nh, và việc các mục đồng trở về với đời sống thường nhật quen thuộc giúp chúng ta nhận ra được là việc khám phá ra Chúa không có nghĩa là phải có sự thay đổi hoàn cảnh bên ngoài, nhưng là sự biến đổi sâu xa trong ḷng.

V́ thế, trong cảnh trí này, nổi bật một sự mâu thuẫn:

Chúa Giêsu bị che dấu nay lại tỏ hiện, bị hạ xuống, nhưng rồi được tôn vinh; trao cho hai tạo vật yếu đuối săn sóc, nhưng được các thiên thần canh giữ; yếu hèn thực đó, nhưng lại là vị cứu tinh nhân loại. Hoàn toàn là người trong mọi sự, nhưng rạng ngời ánh quang của Thiên Chúa.

Tŕnh thuật Kinh thánh nhấn mạnh trên sự mâu thuẫn này là giới thần thiêng đă đi sâu vào sự thấp hèn của nhân loại, nhưng qua đó lại chiếu ngời lên để tôn vinh Thiên Chúa.


3. Đêm Ánh Sáng – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

ĐÊM ÁNH SÁNG

Đêm Giáng Sinh ch́m trong lớp lớp bóng tối dày đặc.

Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước ch́m trong ách thống trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.

Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.

Đó là ánh sáng t́nh yêu.

T́nh yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh t́nh yêu của Thiên chúa dành cho nhân loại. T́nh yêu đă đi đến tận cùng v́ đă trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không ǵ có thể so sánh được. Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không c̣n có thể cho thêm ǵ nữa. Đức Giêsu là hiện thân của t́nh yêu Thiên chúa đi t́m con người. Thiên chúa đă hạ ḿnh thẳm sâu để xuống gặp con người. Thiên chúa đă t́m thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên chúa đă cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên chúa. Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương. Anh sáng Thiên chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh sáng Thiên chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.

Đó là ánh sáng niềm tin.

Anh sáng Giáng Sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn c̣n mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Đó là những người nghèo của Thiên chúa. Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các mục đồng. Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ư Thiên chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên chúa gửi đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hê rô đê và Giêrusalem ch́m trong mê đắm nên ngôi sao đă tắt. Trái lại "vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng". Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua. Anh sáng đă bao phủ các ngài. Anh sáng đă dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ. Anh sáng đă khiến các ngài nh́n thấy "một trẻ sơ sinh bọc tă, nằm trong máng cỏ" và các ngài đă tin.

Đó là ánh sáng hy vọng.

Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất ph́ nhiêu. Những người nghèo của Thiên chúa âm thầm kiên tŕ chờ đợi. Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời t́m kiếm. Niềm khao khát đă được đáp ứng. Đă đến mùa Thiên chúa gieo hạt. Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Anh b́nh minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu: những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên chúa gieo vào thế giới.

Đó là ánh sáng Tin Mừng.

Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà c̣n chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh. "Họ kể lại điều đă được nói với họ về Hài Nhi này". Tin Mừng được loan đi. Niềm vui lan tới mọi tâm hồn. Ánh sáng bừng lên phá tan đêm tối.

Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.

Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở ḷng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.


4. Vinh danh Thiên Chúa trên trời- ĐTGM Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Lc 2,1-14

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Đêm nay, tại các nhà thờ trên khắp thế giới vang lên lời ca của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh năm xưa:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

B́nh an dưới thế cho người Chúa thương”

Lời hát của các thiên thần chính là sứ điệp của Chúa từ trời cao gửi xuống. Lời hát này nối kết đất với trời. Lời hát này ràng buộc Thiên Chúa với con người.

Tại sao ““Vinh danh Thiên Chúa trên trời” phải đi liền với “B́nh an dưới thế cho người Chúa thương”? Thưa v́ Thiên Chúa yêu thương con người. Thiên Chúa tự ràng buộc ḿnh với con người.

V́ yêu thương nhân loại, Con Thiên Chúa đă xuống thế làm người. V́ yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện trở nên một trẻ thơ yếu ớt. V́ yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện làm con của loài người, sinh ra bởi một người phụ nữ. V́ yêu thương nhân loại, Ngài đă muốn trở nên một thành viên trong gia đ́nh nhân loại, có một gia đ́nh như những người khác.

Thiên Chúa đă tự nguyện làm một người như chúng ta, Thiên Chúa tự đồng hóa với con người đến nỗi từ nay ai khinh miệt một con người là khinh miệt chính Chúa, ai bạc đăi một con người là bạc đăi chính Chúa, ai hà hiếp một con người là hà hiếp chính Chúa. Ai xúc phạm đến con người là xúc phạm đến Chúa.

Hang đá Bêlem là một lời mời gọi tha thiết và cấp thiết cho tương lai nhân loại. Thiên Chúa hóa thân làm một trẻ sơ sinh để mời gọi ta hăy biết tôn trọng sự sống. Thiên Chúa sinh ra làm một trẻ thơ yếu ớt để mời gọi ta hăy biết yêu thương những người bé nhỏ, yếu hèn. Thiên Chúa sinh ra trong cảnh nghèo nàn để mời gọi ta hăy biết nâng đỡ những người nghèo khổ. Thiên Chúa sinh làm con Đức Mẹ Maria để mời gọi ta hăy biết kính trọng phụ nữ. Thiên Chúa sinh ra trong một gia đ́nh để mời gọi ta hăy biết bảo vệ những truyền thống tốt đẹp đem lại hạnh phúc cho gia đ́nh.

Lời mời gọi này có tính chất quyết định không những cho hạnh phúc chóng qua mà c̣n cho hạnh phúc vĩnh cửu của con người.

V́ ai tôn trọng con người là tôn trọng chính Chúa. Ai phục vụ con người là phục vụ chính Chúa. Như lời Chúa dạy: mỗi lần ta cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, là ta làm cho chính Chúa (x. Mt 25).

Như thế, lễ Chúa Giáng Sinh là lễ của phẩm giá con người. Chúa xuống trần để nâng cao phẩm giá con người. Chúa làm người để con người được kính trọng. Con người cao quư v́ đă được nâng lên làm con Thiên Chúa.

Như thế, lễ Giáng Sinh là lễ của niềm vui. Vui v́ con người được Thiên Chúa yêu thương. Vui v́ con người được nâng lên địa vị cao trọng. Hôm nay khi đọc Kinh Tin Kính đến câu: “V́ loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đă từ trời xuống thế”, ta hăy quỳ gối trước t́nh yêu thương cao cả của Chúa dành cho ta. Quỳ gối để suy niệm sự cao cả của con người v́ được Chúa yêu thương.

V́ thế, để mừng lễ Chúa Giáng Sinh cho đúng ư nghĩa, tôn thờ Thiên Chúa vẫn chưa đủ, ta c̣n phải yêu thương kính trọng con người. Dịp lễ Giáng Sinh, chỉ đến viếng hang đá thôi chưa đủ, ta c̣n phải đến viếng những nhà tranh vách đất, giúp dựng lại những túp lều xiêu vẹo. Chỉ đến viếng Chúa Giêsu bé thơ thôi chưa đủ. Ta c̣n phải đến viếng những trẻ em bị bỏ rơi, vực dậy những tuổi thơ bất hạnh. Chỉ cảm thương Thánh Gia trong hang đá nghèo nàn thôi chưa đủ. Ta c̣n phải cảm thương những anh chị em nghèo khổ, thiếu may mắn ở quanh ta.

Chỉ khi nào tất cả mọi người được yêu thương, ta mới có thể mừng lễ Giáng Sinh thật sự vui tươi. Chỉ khi nào tất cả mọi người bé nhỏ, yếu ớt, nghèo hèn được kính trọng, ta mới có thể hát vang lời ca:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

B́nh an dưới thế cho người Chúa thương”

Trong tâm t́nh yêu mến và kính trọng, tôi xin gửi tới tất cả anh chị em lời cầu chúc đầy b́nh an và ân sủng của Chúa Hài Nhi Giáng Sinh. Amen.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU

1) Vinh danh Thiên Chúa trên trời. B́nh an dưới thế cho người Chúa thương. Khi hát câu này bạn có ư thức mối liên hệ chặt chẽ giữa Thiên Chúa với con người không?

2) Tại sao Chúa Giêsu đ̣i buộc ta phải yêu mến con người nếu ta thực sự yêu mến Chúa?

3) Lễ Giáng Sinh này, bạn sẽ làm việc cụ thể nào để thực sự mừng đón Chúa đến?


5. Lời ngỏ của T́nh Yêu - ĐTGM Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga 1,1-18

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Thánh Gioan Tông Đồ định nghĩa: “Thiên Chúa là t́nh yêu”. Thiên Chúa đă bày tỏ t́nh yêu của Ngài bằng nhiều cách dưới nhiều h́nh thức khác nhau. Nhưng Thiên Chúa với h́nh ảnh ta khó thấy được và nhiều khi không nhận ra những công tŕnh t́nh yêu của Ngài. Yêu nhiều rồi cũng có lúc phải nói ra. Thiên Chúa quá yêu thương con người nên sau cùng đă gửi Con Một của Ngài xuống trần để tỏ cho ta biết t́nh yêu Thiên Chúa. Con Một Thiên Chúa chính là Lời của Chúa ngỏ với nhân loại. V́ thế ta hăy vào hang đá Bêlem để lắng nghe được Lời Chúa nói với ta. Chúa Giêsu bé thơ không nói bằng âm thanh vật lư, nhưng Ngài nói bằng âm thanh của trái tim. Lời của Ngài là lời của t́nh yêu. Qua bản thân Ngài, qua ánh mắt Ngài, qua khung cảnh hang đá, ta sẽ nghe được tiếng th́ thầm của Thiên Chúa. Tiếng th́ thầm đó là tiếng nói của t́nh yêu dưới nhiều sắc mầu khác nhau.

Đó là tiếng nói của t́nh yêu dâng hiến. Bêlem theo tiếng Do Thái có nghĩa là nhà bánh. Chúa Giêsu tự nguyện trở thành tấm bánh nuôi dưỡng chúng ta. Ngài nằm trong máng cỏ như một lương thực mời gọi đoàn chiên đến để được bổ dưỡng. Lương thực đó không phải là lương thực vật chất nuôi xác, nhưng là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn. Ngày nay, tuy nạn đói cơm bánh đă bớt phần gay gắt, nhưng lại xuất hiện những cơn đói mới: đói văn hóa, đói sự an ủi chia sẻ, và nhất là đói khát đời sống thiêng liêng. Chúa Giêsu chính là tấm bánh bẻ ra cho thế giới mới, đáp ứng những cơn đói mới của thế giới.

Đó là tiếng nói của t́nh yêu khiêm nhường. T́nh yêu chân thực là t́nh yêu khiêm nhường. T́nh yêu hạ ḿnh v́ người yêu. Chúa Giêsu đă hạ ḿnh thẳm sâu. Từ trời xuống đất. Từ địa vị Thiên Chúa xuống địa vị làm người. Khiêm nhường nên nhường hết không gian cho con người. Những không gian rộng lớn, cao sang thuộc về con người. Chúa chỉ thu ḿnh trong một góc nhỏ nghèo hèn của chuồng ḅ. Nhường không gian cho con người ăn nói. C̣n Chúa chịu im lặng, thu nhỏ trong câm nín.

Đó là tiếng nói của t́nh yêu đi t́m. T́nh yêu của Thiên Chúa luôn đi những bước trước. Yêu con người khi con người chưa biết yêu Chúa. Tha thứ cho con người trước khi con người xin lỗi. Đi t́m con người trước khi con người quay về. Cuộc đi t́m thật vất vả. Chúa phải bỏ trời cao, phải mặc thân phận yếu hèn, phải chịu khổ sở, phải chịu nhục nhă, phải chịu chết mới t́m được con người.

Đó là tiếng nói của t́nh yêu hy sinh. V́ yêu nên Chúa chấp nhận hết những thiệt tḥi về phần ḿnh. Chịu đói nghèo, chịu bị xua đuổi, chịu khổ nhục. Trẻ thơ Giêsu rét mướt nằm trong máng cỏ nói với ta điều ǵ nếu không phải là t́nh yêu, yêu đến độ chấp nhận tất cả.

Đó là tiếng nói của t́nh yêu kết hợp. Cứ dấu này các ngươi nhận biết Ngài, đó là một em bé sơ sinh nằm trong máng cỏ. Vâng, kỳ diệu thay t́nh yêu Thiên Chúa. V́ yêu nên đă kết hợp trọn vẹn với con người. Trở nên một với con người. Chấp nhận hết những ǵ của con người. Chấp nhận đói khát, khổ sở, nghèo nàn. Chấp nhận cả những bấp bênh, bất trắc của kiếp người.

Lời Thiên Chúa đang ngỏ với ta qua Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Hăy đến bên hang đá để nghe được tiếng nói của Thiên Chúa. Hăy mở rộng trái tim để đón nhận được t́nh yêu của Thiên Chúa. Trong bóng tối hận thù, ích kỷ, ghen ghét của thế giới, t́nh yêu Chúa là ánh sáng xé tan đêm tối. Hăy để ánh sáng t́nh yêu Chúa soi chiếu tâm hồn ta. Hăy đón nhận ánh sáng t́nh yêu của Chúa, để đến lượt chúng ta, chúng ta đem ánh sáng t́nh yêu của Chúa chiếu soi vào môi trường chung quanh ta. Để cho thế giới bớt tối tăm. Bấy giờ Lời của Chúa, Lời t́nh yêu sẽ vang dội khắp thế giới.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU

1) Bạn nghe thấy ǵ qua tiếng nói thinh lặng của Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ?

2) Yêu thương, ngỏ lời mà không được lắng nghe và đáp lại. Bạn cảm thấy thế nào nếu rơi vào t́nh trạng đó? Bạn có hiểu được ḷng Thiên Chúa khi ngỏ lời yêu thương với bạn không?

3) C̣n nhiều người chưa nghe được lời yêu thương của Chúa. Bạn có sẵn sàng làm sứ giả đem lời t́nh yêu của Chúa đến với họ không?

4) Để làm sứ giả t́nh thương, bạn cần những đức tính nào?

 


6. Chuẩn bị chỗ cho niềm vui.

Những t́nh tiết chung quanh sự việc Đức Giêsu Giáng Sinh là nguồn đề tài cho rất nhiều thiên khảo sát thông thái, là cảm hứng bất tận cho những suy niệm thiêng liêng và thi ca hướng thượng. Những nhà uyên bác muốn xem bản văn của thánh Luca như một thiên kư sự trong đó thực tế lịch sử được thích ứng với một mẫu tín ngưỡng dân gian bắt rễ ở những công thức kinh điển Cựu Ước. Sự suy–niệm thiêng liêng đă biết nhận ra trong kư sự ảnh hưởng của thuyết hiện thực lịch sử, vừa nhân bản vừa có tính chất thần linh, khi thuyết này được áp dụng, để khảo sát sự việc Thiên Chúa đến trong nhân loại. Dù sao, những công tŕnh khảo cứu bác học và sự suy niệm thiêng liêng cũng gặp nhau ở điểm cùng xác nhận tính chất chắc chắn của những sự kiện sau đây: bà Maria và ông Giuse đă đến Bêlem, nơi đây Đức Giêsu Cứu Thế đă Giáng Sinh, cũng tại đây những kẻ đầu tiên đă tin vào sự loan báo lớn lao này.

Thánh Luca viết bản văn này khoảng thời gian rất lâu sau biến cố. Lúc ông soạn bộ Phúc âm mang tên ông th́ sự kiện Phục sinh và Hiện xuống đă xảy ra rồi. Giáo Hội sơ khai đặt ra kinh nguyện theo sát kinh nghiệm thiêng liêng thu thập được. Có thể là Giáo Hội đă tuyển trong khối tài liệu phong phú về biến cố Giáng Sinh để lựa lấy những điều nào hợp với kinh nghiệm nhất: Vinh danh dâng lên Thiên Chúa và b́nh an được ban cho loài người dưới thế đă được thánh Luca trích ra để dùng từ một kinh nguyện phụng vụ, chính bản kinh này bắt nguồn ở mầu nhiệm tổng quát Giáng Sinh, Vượt qua và Hiện xuống. Ngày nay khi chúng ta mừng một biến cố xảy đến trong lịch sử Đức Giêsu, điều lợi ích cho ta là chớ lăng quên toàn bộ Mầu Nhiệm Đức Kitô, Con Chúa xuống thế làm người, để nhờ tác động của thần trí Người, Đức Kitô thực hiện trong Giáo Hội sứ mạng làm vinh danh Chúa Cha và cứu rỗi nhân loại anh em Người. Xin lấy một ví dụ thực tế để gợi ư. Lĩnh ơn hoà giải qua bí tích giải tội, và tham dự sốt sắng thánh lễ tạ ơn – đó là những nguồn vui thật sự vào dịp Giáng Sinh. Ngoài ra, thi vị hoá ngày lễ và nô nức mừng lễ, cả hai chỉ là bộ áo phủ ngoài. Chúng ta có thể dừng lại ở hai chủ đề suy niệm:

1) Thiên sứ được Chúa sai đến bảo cho những mục đồng biết: Ta loan báo cho anh em một niềm vui lớn, nó cũng sẽ là niềm vui chung cho toàn dân. Đây là một niềm vui đáp ứng một hy vọng. Từ bao thế kỷ; năo trạng Israel được duy tŕ và bồi dưỡng bởi các ngôn sứ, dựa vào niềm trông đợi Đấng Cứu Thế sẽ đến. Niềm vui này cũng là niềm vui chung cho toàn dân, chỉ có thể xuất phát từ Đấng Cứu Thế. Sứ điệp thiên thần mang đến cho những ai có tâm hồn như trầm xuống trong niềm trông đợi Đức Kitô mà Thiên Chúa hứa ban cho trần thế. Điều này gợi ra một câu hỏi: trong tâm hồn ta, có dọn dẹp chuẩn bị một chỗ cho niềm vui được Thiên Chúa loan báo không? Chúng ta có những ước vọng nào? chúng hướng về đâu? Trong chúng ta có hay không một chỗ dành cho sự mong mỏi đợi chờ Chúng ngự đến để Người tác động mạnh hơn nữa? Thiên Chúa không thể loan báo cho chúng ta một niềm vui, nếu chúng ta không cần đến Người. Tuy nhiên, nếu nhờ đức tin mà chúng ta phát hiện và ngẫu nhiên cảm thấy điều sau: chỉ Thiên Chúa mới có thể ban phát tràn đầy ơn phúc cho chúng ta, th́ ta phải hiểu rằng chính đức tin chuẩn bị chúng ta tiếp nhận những sự loan báo Tin Mừng.

2) Hôm nay một Đấng Cứu Thế được sinh ra cho anh em. Dù cam phận hay nổi loạn con người bị cưỡng bách phải nhận định điều này: đời sống cá nhân tiến dần đến cơi chết, đến chỗ tiêu tan bản thể. Cam phận hay nổi loạn, cả hai đều chứa đựng đau khổ. Đấng đem đến cho nhân loại phương thế hữu hiệu để vượt thắng chết và sự trầm luân, chúng ta tôn Người là Đấng Cứu Thế. Đấng Cứu Thế được các thiên thần loan báo không chỉ đến phải cứu con người khỏi định mệnh phải chết, mà c̣n ban cho con người sự sống của Thiên Chúa. Năo trạng thời hiện đại hướng tới chỗ xui giục một số người nào đó đành chịu rơi vào cơi chết – và xô đẩy một số khác nổi loạn cuồng nộ. Là tín đồ của Chúa, ta hăy ư thức rằng ta cần được cứu rỗi. Hăy từ khước sự can tâm nhận lấy hư vô. Mặt khác ta hăy đến với Đấng Cứu Thế, tŕnh bày một niềm riêng tư của ḿnh, chứ đừng có vun tưới cho những sự nổi loạn vô ích và ngu dại. Hăy hiệp thông với hành động của Chúa Cứu Thế chúng ta.

 


7. Đừng thờ lầm (Gio 1, 1-18)

Phần tự ngôn Phúc âm theo thánh Gioan khuyên nhủ chúng ta nhận thức rơ tầm mức siêu phàm của lễ Giáng Sinh, cũng như sự uy nghi của mầu nhiệm Giáng Sinh. Con trẻ Giêsu là Ngôi Lời nhập thể đến cư ngụ giữa chúng ta. Đứng trước Hài nhi bé mọn ở Bêlem, chúng ta được mời tiến sâu vào chính mầu nhiêm Thiên Chúa, tới chỗ của Ngôi Lời – tức là Lời hằng sống và thân mật của Thiên Chúa đă có trước toàn thể vũ trụ. Như vậy chúng ta được mời hăy đến thờ lạy. Kẻ thờ phụng là kẻ khi được tới gần bên Thiên Chúa liền nhận thức sâu sắc rằng ḿnh là kẻ tuỳ thuộc, vô giá trị, tội lỗi nữa. Kính thờ và thinh lặng, cảm tạ và vui sướng, đó là cách tuyên xưng Chúa là sự Thiện tuyệt đối và nguồn mọi ơn lành. Lễ Giáng Sinh mời chúng ta đến thờ lạy Con trẻ Giêsu. Trong Hài Nhi, Thiên Chúa rất gần gũi – trong Hài nhi có sự sung măn của Thiên Chúa – và nhờ Hài nhi, chúng ta được có mặt trên thế gian để sống, hiểu biết và yêu thương. Sự suy niệm về một vài từ ngữ trong tự ngôn của thánh Gioan có thể cung cấp cho chúng ta một phong cách thờ phụng.

1) Trong Đức Giêsu, chúng ta thờ lạy Đấng tạo hóa. Năo trạng nhân lạo thời nay dễ loại bỏ ư niệm về Đấng tạo hoá, con người chỉ muốn những ǵ ḿnh có là do sức ḿnh. Một số tiến bộ nào đó để t́m hiểu những diễn biến vật chất của sự sống, đă đem lại chước cám dỗ xui con người muốn quyết định ai sẽ có quyền được sinh ra và cuộc đời ḿnh sẽ diễn tiến thế nào. Con người quên mất nguồn gốc ḿnh, quên hẳn sự thể bởi đâu mà ḿnh có được thân xác, có được sự sống. Con người suy tư và hành động như thể không bị hoàn toàn tuỳ thuộc vào Đấng tạo hoá đă tạo thành y. Trong Đức Giêsu, chúng ta thờ lạy Đấng đang có, trước đây vốn có, và đến trong thế gian (Mạc khải 4, 8), nghĩa là Đấng hiện hữu ngoài thời gian, đă có trước hết mọi khởi đầu, do Người mà muôn vật được tạo thành. Lễ Giáng Sinh tức lễ Nhập Thể cho thấy một sự tự ư hạ ḿnh nào đó của Thiên Chúa. Để làm nổi bật sự tương phản giữa tất cả và hư vô. Chúng ta được mời hăy ư thức lại về thân phận thụ tạo của ḿnh hăy thờ phụng Thiên Chúa đă tạo thành chúng ta. Thiên Chúa là Đấng tự hữu, Người không được tạo thành- phần chúng ta, chúng ta đă được tạo thành. V́ thế, chúng ta phải suy tư và hành động theo chiều nghĩ: nhờ Thiên Chúa mà chúng ta có được mọi sự.

2) Nhờ Đức Giêsu, chúng ta thờ lạy trong tâm trí và trong sự thật. Một trong những diện chủ yếu và bi kịch nhân loại là con người thường nhiều phen lầm lạc trong khi thờ phụng. Luôn luôn con người bị cám dỗ thờ ngẫu tượng. Tại sao? V́ lẽ, nếu không có Đức Kitô th́ nhân lại chỉ c̣n biết ḍ đường trong đêm tối – trí tuệ bị u ám, trái tim chán nản hết sinh động. Thế mà Đức Kitô là Ánh sáng. Người là Sự Sống, và sự sống là Ánh sáng nhân loại. Thờ phụng cách linh hoạt giống như tâm hồn tiến bước trên đường tới đích là Thiên Chúa. Phải được soi sáng mới khỏi lạc đường. Đức Kitô- Aùnh sáng soi sáng trí tuệ con người và chỉ con người thấy đường đi của số mệnh y.

Ánh sáng và sự sống liên kết với nhau. Kẻ thờ các ngẫu tượng (khoái lạc, danh vọng, tiền của, thế gian) th́ ḍ dẫm trong bóng tối linh hồn, và hiến ḿnh cho những vật chết. Cách vô h́nh, và nhiều phen thật bất hạnh cho y, kẻ ấy liên kết trong tâm hồn bóng tối và sự chết. Trái lại, người nào tiếp nhận ánh sáng, tức quy tắc về Chân Lư, do niềm tin vào Đức Kitô phát ra, người ấy liên kết trong tâm hồn Ánh sáng và sự sống.

Lễ Giáng Sinh mừng ánh sáng. Trong khi vui ngắm những giây đèn giăng mắc ngoài đường phố và trong tư gia, chúng ta hăy nhớ đến sự cần thiết hàng đầu là làm thế nào để Ánh sáng Đức Kitô soi sáng ḷng và trí chúng ta.


8. Thiên Chúa làm người v́ chúng ta – Noel Quesson

Đêm Giáng Sinh, cả gia đ́nh vui vẻ đi dự lễ, nhưng người chủ gia đ́nh không đi. Ông nghĩ Giáng Sinh là một câu chuyện huyền thoại, Thượng Đế mà thành một người là điều vô lư.

Đêm đông lạnh giá, vợ con đều đi lễ, một ḿnh ông ở nhà, ngồi nghe gió lạnh rít qua khe cửa. Bỗng có tiếng đập mạnh vào cửa sổ. Hé rèm nh́n ra, ông thấy những con chim sẻ đang lao đầu vào cửa kính. Ông không muốn mở cửa dù thấy tội nghiệp lũ chim, v́ ông sợ mưa hắt vào nhà. Những con chim bay vô sẽ làm náo động. Ông nghĩ nếu chúng muốn t́m chỗ ấm áp, an toàn th́ có thể vào kho lúa ở pḥng kế. Ông mặc áo ấm và đi hé mở cửa kho lúa. Nhưng không có cách nào kêu bầy chim vô kho lúa được, dù ông ráng gọi và ra hiệu. Những con chim không hiểu ư ông. Chúng vẫn lao đầu vô vọng vào các khung cửa kính có ánh đèn. Ông tự nhủ: giá ḿnh là một chim sẻ th́ ḿnh sẽ dẫn cả bầy chim t́m được nơi trú an toàn ấm áp.

Nghĩ tới đó, ông chợt hiểu ư nghĩa của lễ Giáng Sinh. Con người rất khó mà hiểu Thiên Chúa, cũng như những chim sẻ không hiểu ư ông. V́ thế Thiên Chúa mới cần trở thành một con người, cần nói tiếng con người, sống cuộc sống con người, dù Ngài vẫn là Thiên Chúa. Có như thế, những ư định, những bài học của Ngài mới được con người thông hiểu và lănh hội. Dĩ nhiên, Thiên Chúa trở thành một người có lẽ c̣n khiêm hạ hơn việc con người trở thành một chim sẻ. Nhưng ư nghĩa th́ cũng tương tự. Cần trở nên một con chim để lănh đạo bầy chim! Cần phải có một người, cũng là Thiên Chúa, để dạy dỗ và đưa con người đến ơn cứu độ.

Bài học đầu tiên lễ Giáng Sinh dạy ta là bài học khiêm tốn. Thiên Chúa cao cả quyền uy. Trong Cựu Ước, mỗi lần Giavê xuất hiện là có sấm chớp, mây gió làm dân chúng kinh hăi giấu mặt. C̣n bây giờ Thiên Chúa Giáng Sinh nơi trần gian, Ngài đă chọn một xóm làng bé nhỏ. Nhưng ngay ở xóm làng bé nhỏ đó, Ngài cũng không có chỗ ở, phải ra cánh đồng tạm trú trong một hang đá. Mẹ Maria sinh Chúa, lấy tă bọc con và đặt nằm vào máng cỏ.

Người ta mong chờ Đấng Cứu Thế từ bao năm. Nhưng ai cũng nghĩ tới một Chúa Cứu Thế quyền uy, giàu có và mạnh mẽ! C̣n đây Chúa tới như một em bé, hèn, yếu, chẳng ai biết tới và đón chào. Đường lối Thiên Chúa bao giờ cũng bí nhiệm, xem như nghịch lư, khó hiểu, ngay cả những người đạo hạnh cũng khó nhận ra.

Thiên thần Chúa đă đến với các mục đồng, những người nghèo, và ánh vinh quang Thiên Chúa bao phủ họ, ánh quang tỏa sáng, đó là dấu hiệu Thiên Chúa hiện diện. Hào quang Thiên Chúa thường xuất hiện nơi đền thánh. Từ đây, ánh quang đó che phủ những người nghèo. Chúa tự nhận ḿnh vào số những người nghèo khó: “Việc ǵ các con làm cho một người nhỏ bé nhất, là các con làm cho Ta”.

Thiên thần loan báo một “Tin Vui”, một tin vui cho toàn dân. Đó là Chúa Cứu Thế đă Giáng Sinh, Ngài là Đức Kitô, là Thiên Chúa. Chúng ta có thấy tâm hồn hân hoan vui vẻ khi được đón Chúa vào ḷng không? Muốn được niềm vui này, muốn nhận ra Chúa Cứu Thế và đón tiếp Ngài, phải theo đúng dấu hiệu thiên thần đă chỉ: “Một em bé sơ sinh, bọc tă nằm trong máng cỏ”. Phải đơn sơ khiêm tốn, không được khinh thường những người bé nhỏ khó nghèo. Chúa nằm trong máng như một thức ăn, để nuôi sống chúng ta.

Lạy Chúa, Ngài hạ ḿnh xuống làm người, để dẫn đưa con người về với Chúa. Chúng con xin tạ ơn Ngài. Xin giúp chúng con theo gương Chúa, biết hạ ḿnh phục vụ Chúa trong mọi người, trở nên anh chị em của mọi người trong xă hội hôm nay.

9. NOEL: Yêu thương

Vào năm 1994, hai nhà giáo Mỹ được bộ giáo dục Nga mời sang dạy. Nhân mùa Giáng Sinh họ đến thăm một viện mồ côi, và kể chuyện Chúa Sinh Ra cho trẻ. Các em mồ côi cũng như ban quản đốc sung sướng há hốc mồm ngồi nghe họ kể chuyện Giáng Sinh. Sau đó, họ phát cho các em vật dụng thủ công để làm Máng Cỏ. Trong khi đi tới đi lui trông các em làm Máng Cỏ, họ ngạc nhiên khi thấy Máng Cỏ của bé Misha, trông chừng 6 tuổi, có đến hai bé sơ sinh nằm trong máng. Đức Mẹ sinh đôi? Không thể được! Bỡ ngỡ, nhưng b́nh thản, họ mời Misha kể lại đầu đuôi câu chuyện Chúa Sinh Ra. Nhỏ Misha kể rất thông suốt, rành mạch, đúng với Tin Mừng, từ lúc Truyền Tin cho đến khi hai ông bà không t́m được chỗ trong quán trọ. Nhưng khi đến phần Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu và đặt trong máng, th́ em bắt đầu tự do cho thêm mắm muối: Khi Đức Mẹ đặt Bé Giêsu vào trong máng, th́ Bé nh́n em và hỏi: em có chỗ ở chưa? Em thưa: Con đâu có cha, có mẹ, con đâu có nhà! Vậy th́ em ở với tôi nhé! Nhưng em ngại ngùng: con đâu có quà ǵ để tặng Chúa như người khác được! V́ em rất mong muốn được ở với Bé Giêsu, nên em nghĩ em có thể tặng Chúa tất cả những ǵ em có: Hay là con ôm Chúa cho Chúa ấm được không? Tuyệt, món quà quư đó chưa ai cho tôi cả. Thế là em nhảy ngay vào trong máng cỏ này và nằm ôm cho Chúa ấm. Chúa Giêsu cũng giang tay ôm lấy em và bảo: Em có thể ở với tôi luôn luôn. Vừa nói Misha vừa lấy tay chùi mắt chùi mũi. Lệ đă tuôn thành gịng trên g̣ má hốc hác của em bé mồ côi.

Hăy vào đây, hỡi những Misha, v́ khi Ta đói, các ngươi đă cho ăn; Ta khát, các ngươi đă cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đă tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đă cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đă thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đă đến thăm. Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh chị em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đă làm cho chính Ta vậy (Mt 25, 35-36, 40). Giữa ḷng đời hôm nay cũng lắm trẻ thơ lạnh giá. Ngay trong xă hội Hoa Kỳ, và các nước tân tiến, giàu sang cũng đầy kẻ, đầy trẻ homeless. Không những homeless v́ không có căn nhà để ở, không t́m được chỗ trong quán trọ, mà c̣n homeless ngay giữa bốn bức tường được cách hàn, cách nhiệt (insulation) v́ phải sống giữa những trái tim được insulated - cách biệt quá kỹ bởi cá nhân chủ nghĩa, tư lợi chủ nghĩa, hưởng thụ chủ nghĩa,... bởi gia đ́nh tan vỡ, ly dị, ly thân. Các em ấy đang mong đợi ṿng tay ấm áp của bạn đó! Các em ấy đang giang tay mong chờ con tim bằng thịt, biết yêu, và yêu nồng nàn ấm áp của bạn đó! Và nếu lỡ các em ấy chính là người trong nhà bạn th́ đau lắm! Lạnh ngắt con tim! Mời bạn mở rộng con tim, nhảy vào máng cỏ cuộc đời, sưởi ấm những bé thơ đang cần nhờ bạn, để không phải Đức Mẹ sinh đôi mà c̣n là Mẹ muôn người.

Xin Chúa Giêsu ngự trị con tim bạn!

Chúa Giêsu ngự trị ḷng ta, luôn luôn!

 


10. Vinh danh

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, b́nh an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Nh́n vào bất cứ một hang đá nào chúng ta đều nh́n thấy hàng chữ trên, đây là sứ điệp của lễ giáng Sinh Thiên Chúa gửi cho tất cả loài người, sứ điệp đó chính là lời ca hát tung hô của các thiên thần trên hang đá Bêlem xưa kia.

Trước hết, về việc tôn vinh Thiên Chúa, chúng ta thấy các thiên thần, đất đá, cỏ cây, trời đất… c̣n biết ca tụng vinh quang Thiên Chúa, c̣n con người chúng ta th́ sao? Biết đâu chúng ta sống mà không sống tôn vinh Thiên Chúa, tệ hơn nữa, có thể chúng ta c̣n ăn cắp vinh danh Chúa hoặc xóa bỏ vinh danh Ngài. Đáng lẽ của Thiên Chúa phải trả cho Ngài, đáng lẽ chúng ta phải làm cho người khác biết mà ca ngợi Cha chúng ta trên trời th́ chúng ta đă làm ngược lại chăng? V́ thế, chúng ta hăy tôn vinh danh Chúa trong cuộc đời chúng ta và bằng chính con người chúng ta, nghĩa là chúng ta hăy thể hiện bằng việc phục vụ mọi người và phục vụ bằng những việc làm tốt. Chúng ta hăy nhớ: bao lâu chúng ta c̣n sống với người khác và trong xă hội, bấy lâu chúng ta c̣n có vô số hoàn cảnh làm sáng danh Chúa, bởi v́ chúng ta luôn luôn có thể phục vụ, mà phục vụ con người, phục vụ xă hội, bất cứ cách nào, miễn là bằng việc làm tốt th́ chính là một cách tôn vinh danh Chúa, là góp phần làm sáng lên trong Giáo Hội và xă hội h́nh ảnh sống động của Thiên Chúa giàu ḷng thương xót, là góp phần làm sáng lên t́nh thương yêu của Chúa trong lịch sử cứu độ.

C̣n vấn đề “B́nh an dưới thế cho loài người Chúa thương” th́ sao? Câu đó bảo cho chúng ta biết: muốn có b́nh an, muốn được b́nh an, chúng ta phải có thiện tâm, nghĩa là lời các thiên thần là lời công bố b́nh an, nhưng lại gồm một điều kiện cần thiết: phải có thiện tâm. Thiện tâm không phải là hoàn hảo, cũng không đ̣i phải toàn thiện, nhưng là có một tấm ḷng ngay thẳng, trong sạch, bởi v́ chúng ta chỉ được b́nh an khi lương tâm trong sạch, như thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Một lương tâm trong sạch là nguồn b́nh an lớn nhất trong cơn hoạn nạn”. Hơn nữa, một tấm ḷng trong sạch là một máng cỏ sẵn sàng để Chúa Hài đồng đến ngự. Nếu b́nh an của Chúa là như thế th́ chúng ta có được lời chúc phúc của các thiên thần không? Muốn biết có hay không, chúng ta hăy nh́n vào kết quả của việc làm. Không ai cho cái ḿnh không có, một người không có b́nh an thật sự của tâm hồn, họ sẽ chạy đi đây đi đó để t́m b́nh an giả tạo bên ngoài, nơi người khác hay sự vật và hoàn cảnh chung quanh, đó là những nơi thiếu vắng t́nh yêu của Chúa. Điều này rất dễ kiểm chứng, như sách Đại Học viết: “Một con tim không ngay chính, bất an xáo trộn, th́ con người ấy dù có giương mắt ếch ra mà nh́n cũng không thấy, lắng tai nghe cũng không được ǵ, mà có ăn nhậu ǵ cũng chẳng biết mùi vị nữa”. Đó, một khi con tim đă bất an, đă xốn xang mà c̣n ảnh hưởng tới cái nh́n, việc nghe và ăn uống như vậy, th́ huống chi là khi tâm hồn chúng ta hiểm độc, gian ác, tham lam c̣n ảnh hưởng tới gia đ́nh và xă hội biết chừng nào, c̣n đâu nữa “Tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ”.

Hôm nay ngày Chúa Giáng Sinh, ngày Chúa ban b́nh an, Chúa muốn chúng ta kiểm điểm lại từng tâm hồn, từng gia đ́nh, từng cộng đoàn có được thực sự thứ b́nh an mà Chúa từ trời mang xuống không? Xin mời mọi người hăy hồi tưởng lại xem cuộc đời ḿnh đă gây bất an, xáo trộn, sóng gió cho những ai và lư do tại sao vậy, và bây giờ ḿnh và người đó có c̣n bất an với nhau không? Tại sao c̣n nh́n nhau bằng nửa con mắt, hoặc bất ngờ gặp nhau th́ lại tránh né? Xin hăy nh́n lại gia đ́nh ḿnh: tại sao gia đ́nh lại ngột ngạt, xô xát, chiến tranh lạnh, chia đủ phe cánh, lườm nguưt, hành tỏi, lừa đối nhau, nghi ngờ nhau… có gia đ́nh đang gặp chiến tranh nóng loại bỏ là làm hại nhau, chà đạp danh dự của nhau. Người ta bảo “trâu ḅ húc nhau, ruồi muỗi chết oan”. “Hai con voi đánh nhau, dẫm nát đám cỏ non”, chúng ta là những bậc bề trên, là người lớn, là cha mẹ mà căi nhau, đánh nhau, thù oán nhau th́ ảnh hưởng tai hại không nhỏ cho anh em, hàng xóm, cho chính con cái trong nhà và ngoài xă hội, và hiện giờ gia đ́nh chúng ta đang ở trong t́nh trạng nào?

Xin mọi người hăy suy nghĩ cho kỹ hai chữ “b́nh an” để sống cho ḿnh và giúp người khác cùng sống b́nh an. Chúng ta hăy cầu xin Chúa Giêsu Hài Đồng: Lạy Chúa, Chúa đă nói “Phúc cho người xây dựng b́nh an, v́ họ được gọi là con Thiên Chúa”, xin cho chúng con vào số chúc phúc đó. Từ địa vị một Thiên Chúa, Chúa đă hiện diện giữa nhân loại, bằng ḷng chấp nhận thân phận đau khổ như mọi người để đem họ về nguồn b́nh an chân thật, th́ xin cho chúng con biết từ bỏ mọi địa vị, khả năng, hoàn cảnh để gieo văi tin mừng b́nh an. Chúa đă chết để đem lại b́nh an thật, th́ xin đừng ai sống mà cắt xén hay làm chết đi niềm vui, hy vọng của anh em ḿnh. Xin Chúa đoái thương riêng đến những gia đ́nh đang bất an v́ cơm áo, danh dự để họ gặp lại cảnh gia đ́nh đầm ấm yêu thương. Xin cho chúng con luôn được sống trong b́nh an của Chúa.


11. Chúa giáng trần (Ga 1, 1-18)

"Từ nguyên thủy đă có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa." Chưa từng có một lời văn nào diễn tả về cuộc nhập thể của Chúa Giêsu một cách hào hùng và trang trọng như thế. Một Thiên Chúa toàn năng đă mặc lấy xác phàm loài người chúng ta. Ngài là sự sống và là ánh sáng thế gian (Ga 1,4). Thánh Gioan nói cho ta biết trong và qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta về t́nh yêu của Ngài đối với nhân loại. Thế nhưng ở ngay giữa đoạn Thánh Kinh huyền nhiệm đó, chúng ta đọc thấy câu, "Ngài đă đến nhà các gia nhân Người và đă không được đón nhận." Sau đó, Thánh Gioan lại tiếp, "Chúng tôi đă nh́n thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của Người Con Một đầy ân sủng và chân lư" (Ga 1,14). Ở đây, Thánh Gioan nhấn mạnh về mầu nhiệm t́nh thương bao la của Thiên Chúa. Cho dù có bị chối từ, Ngài vẫn đến để trao ban t́nh thương cho chúng ta. Thánh Gioan đă viết tiếp rằng những ai đón tiếp Ngài th́ Ngài ban cho họ được quyền làm con Thiên Chúa.

Ở đây, chúng ta hăy tự đặt ra cho ḿnh một câu hỏi, "Làm sao để chúng ta có thể được quyền làm con Thiên Chúa? là công dân Nước Trời?" Câu trả lời chúng ta t́m thấy ngay trong Phúc Âm.

"Hăy để những trẻ nhỏ đến cùng Thầy". Chúa Giêsu đă phán với các môn đệ. "Nước Thiên Chúa thuộc về những kẻ giống như chúng. Hăy tin Ta, nếu ai không đón nhận Nước Thiên Chúa giống như chúng th́ chẳng được vào Nước Trời" (Lc 18:16-17). Thật đáng tiếc là trong cuộc sống thực tế, chúng ta đang phải cảm nghiệm những cực đoan của xă hội. Mừng Giáng Sinh không có nghĩa là chúng ta được giải thoát khỏi cái thế giới đầy hỗn độn này. Hôm nay chúng ta tụ tập nơi đây để chia sẻ niềm vui và nỗi khổ của nhau. Chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện của những thử thách và gian nan trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Có lẽ một số các bạn bây giờ đang phải khổ năo phiền muộn. Một số người trong chúng ta đang suy tư về sự hiện hữu của ḿnh. Các nước đang chiến tranh với nhau. Nhiều người đang phải đói khổ. Những tên khủng bố đang ngầm phá. Các nước lớn đang dự trữ vũ khí nguyên tử để hăm dọa nhau. Thế nhưng giữa những điều tiêu cực đó, sứ điệp của Giáng Sinh nói với chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ toàn thắng và sự dữ không thể thắng được Ngài. Không bao giờ!

Trong giây phút linh thiêng của ngày Lễ Giáng Sinh, các bạn hăy để cho tâm hồn ḿnh mở rộng để b́nh an của Chúa đổ tràn vào. Hăy trở nên những trẻ nhỏ. Hăy thưa tiếng "Xin Vâng" với Thiên Chúa. Ngài sẽ làm tất cả. Ngài sẽ tẩy rửa và chữa lành chúng ta, và ban cho chúng ta sự sống mới. Ngài c̣n chỉ cho chúng ta con đường công chính dẫn đến ơn cứu độ. Ngài sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta có thể chu toàn nhiệm vụ của chúng ta.

Khi chúng ta c̣n đang nói về câu truyện Giáng Sinh, th́ có lẽ chúng ta c̣n phải tưởng nghĩ đến một phần của câu truyện Giáng Sinh nữa là phần Đức Maria đang ngồi trên lưng con lừa đi bên cạnh Thánh Giuse trên con đường gồ ghề lởm chởm từ Galilêa đến Giuđêa. Khi đến Bethlehem, th́ cả hai đều phải đối diện với một sự tủi khổ đó là cái nghèo. Chuyện xảy ra cách đây hai ngàn năm cũng đang xảy ra ngày nay. Nếu các bạn có tiền, các bạn có thể t́m được chỗ ở khách sạn, cho dù khách sạn đó có ghi câu "hết chỗ" (No Vacancy). Thánh Giuse và Đức Mẹ đều không có tiền nên cả hai đă đi ra cánh đồng và ở trọ trong một hang ḅ lừa. Sau khi sinh ra, Gia Đ́nh Thánh Gia c̣n chưa được ổn định. Vua Hêrôđê đă lùng bắt Chúa Giêsu để giết, và cả ba Đấng Thánh lại phải chạy trốn sang Ai-Cập. Những chuyện bất công, lừa dối, giết chóc, kiêu căng, nghèo khổ... tất cả đều có đầy đủ trong câu truyện Giáng Sinh. Giáng Sinh không chỉ là một cuộc vui mừng đượm bằng những cây thông, gói quà, kẹo ngọt... nhưng là một sứ điệp rằng Chúa Giêsu đă xuống thế gian với chúng ta để chia sẻ cho chúng ta t́nh yêu bao la của Ngài. T́nh yêu của Ngài ở với chúng ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.

Xin các bạn hăy lănh nhận lấy Chúa Hài Đồng để Ngài ban cho các bạn sức mạnh và t́nh yêu để các bạn có thể chia sẻ những ơn ấy cho người khác.

Xin kính chúc tất cả các bạn được an hưởng một mùa Giáng Sinh đầy tràn ơn b́nh an và hạnh phúc của Chúa Hài Đồng!


12. Ai thực sự mừng lễ Chúa Giáng Sinh

Chắc bạn cùng đồng ư với tôi khi nói: Đêm mừng Chúa giáng sinh trở thành đêm hội của mọi người và của thế giới. Tôi thấy đường đi đông quá: người đi xe, kẻ đi bộ nườm nượp. Tôi cũng để ư, nét mặt mọi người đều ánh lên vẻ vui tươi, hân hoan. H́nh như đêm nay ít người ở trong nhà, nhưng người ta ra khỏi nhà nhiều hơn. Rơ ràng, Giáng Sinh trở thành đêm hội của mọi người. Chắc bạn cũng như tôi đều hănh diện v́ lễ Giáng Sinh không chỉ là lễ của người có đạo mà nó là lễ của mọi người. Mầu nhiệm Thiên Chúa làm người đă được mọi người biết đến.

Thế nhưng trong niềm hănh diện đó, tôi lại cảm thấy một cái ǵ băn khoăn, ray rứt, xót xa. Chính lời thiên thần hát trong đêm giáng sinh làm tôi phải âu lo. Âu lo không v́ thiên thần hát, cũng không phải v́ lời hát của thiên thần. Lời ấy làm cho ḷng tôi thêm yêu mến và thánh thiện. Có thể bạn sẽ cho tôi là bi quan. Tôi lo v́ nh́n vào thực tế, nhận ra sự vô tâm của nhiều người. Lời của thiên thần hát là lời ǵ? Thiên thần hát rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, b́nh an dưới thế cho người thiện tâm". Đêm nay có bao nhiêu tâm hồn làm vinh danh Thiên Chúa? Và nếu hiểu "thiện tâm" là thành tâm thiện chí th́ có bao nhiêu người thành tâm thiện chí tôn thờ Chúa để được b́nh an v́ đại đa số nhân loại đă làm mất ư nghĩa của lễ Giáng Sinh? Thay v́ kỷ niệm Ngôi Hai nhập thể làm người, để hướng tâm hồn chuẩn cho ngày Người trở lại, người ta biến đêm hội giáng sinh thành đêm của ăn chơi sa sỉ. Đêm nay biết bao nhiêu nhà hàng vũ trường mở rộng để đón khách, và sẵn sàng mở mọi dịch vụ để ch́u chuộng khách, dù cho có những dịch vụ hết sức đê hèn. Biết bao nhiêu tụ điểm vui chơi đang hoạt động rầm rộ.

Chúng ta nghĩ đến Palestina mà cảm thấy ngậm ngùi. Thành phố Bêlem, nơi Đấng Cứu Thế đă từng cất tiếng khóc đầu tiên, đêm giáng sinh lại không thể sống trong ḥa b́nh. Trên chính quê hương của Chúa Giêsu, nơi mà hai ngàm năm trước, Người đă sinh ra, lớn lên. Và Tin Mừng được rao giảng cho cả thế giới cũng khởi đi từ đất nước này, khi mà cả thế giới nô nức tưởng niệm Chúa Giêsu sinh ra, Palestin lại chim trong chiến tranh. Người ta đang giết hại lẫn nhau. Khúc hát thiên thần: "B́nh an dưới thế cho người thiện tâm" không có được trên chính quê hương của Chúa Giêsu.

Biết bao nhiêu tụ điểm ca nhạc, có thể là những bài ca rất giáng sinh, ca ngợi Thiên Chúa. Nhưng những ca sĩ và những người nghe những bài hát đó có được một tâm hồn ca ngợi Thiên Chúa không, hay chỉ là một thứ vui chơi nào đó? Biết bao nhiêu chàng trai cô gái đêm nay ra khỏi nhà để vui đêm hội giáng sinh? Và trong ḍng người trẻ đó, chắc hẳn có rất nhiều thanh niên nam nữ có đạo đánh đổi việc thờ phượng Thiên Chúa bằng những thú vui vô giá mà những người không có niềm tin đang say mê? Và có biết bao nhiêu chàng trai cô gái choi choi, ào ra đường bằng những chiếc xe phân khối lớn để lạng lách, để đua xe hết tốc độ, để rồi gieo không biết bao tai họa?

Nếu đêm Chúa sinh ra - đêm hội Giáng Sinh là dịp để người lao động vất vả, cả lương lẫn giáo có thời gian nghỉ ngơi, có dịp vui chơi giải trí lành mạnh, đêm mà mọi người tạm quên đi những gánh nặng, những lo âu của cuộc đời vốn đă có quá nhiều đắng cay. Nếu đêm hội Giáng Sinh làm cho người ta hạnh phúc như vậy, th́ nó mới đúng ư nghĩa của mầu nhiệm Chúa làm người.

Cách riêng, đối với người Công giáo, đêm Giáng Sinh phải là đêm đặc biệt của việc tôn thờ Thiên Chúa. Đêm kính nhớ t́nh yêu vô bờ bến của Thiên Chúa. Chính nhờ t́nh yêu này, mà Chúa Giêsu đă giáng sinh làm người, chia sẻ kiếp người của mỗi chúng ta. Có tôn thờ Thiên Chúa thật ḷng như thế, th́ Thiên Chúa trên trời mới được vinh danh trong tâm hồn của mỗi người. Và tâm hồn chỉ dành cho Thiên Chúa mà thôi, tâm hồn mới có b́nh an.

Tin rằng bạn và tôi là những người thành tâm, thiện chí tôn thờ Thiên Chúa. Xin hăy tạm quên những lo toan, những vất vả hằng ngày. Hăy tạm gác lại một bên những ǵ làm chúng ta xôn xao, chia trí, gác lại một bên cái nghèo, cái khổ của cuộc đời để bạn và tôi thực sự được b́nh an trọn vẹn trong thánh lễ này. Có như vậy, chúng ta mới dâng thánh lễ Giáng Sinh, thờ phượng Thiên Chúa cách sốt sắng và ư nghĩa.

Xin kính chúc các bạn MỘT ĐÊM AN B̀NH, v́ chúng ta là những người thiện tâm, đúng như lời thiên thần hát: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời. B́nh an dưới thế cho người thiện tâm".

 


13. Lễ Giáng Sinh - JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Nếu bạn khám phá ra cha bạn - một người rất giàu có - đă xếp đặt để mẹ bạn sinh bạn ra trong một chuồng ḅ hay chuồng heo của nhà ai đó, bạn sẽ nghĩ thế nào về cha của bạn? Bạn lư giải thế nào về việc Thiên Chúa đă quan pḥng để Đức Giêsu, Con Ngài, ra chào đời trong một chuồng ḅ?

2. Đặt ḿnh vào địa vị của Đức Maria và thánh Giuse, bạn sẽ nghĩ và nói thế nào về Thiên Chúa khi hai Ngài phải rời Nagiarét vào Bêlem, không t́m được chỗ trọ, và phải sinh con trong chuồng ḅ?

3. Tại sao Thiên Chúa lại để cho Đức Giêsu phải chịu đau khổ, nhục nhă từ khi sinh ra đến lúc chết? Thiên Chúa ghét và muốn hành hạ Con của Ngài chăng? Nếu không, phải lư giải thế nào về sự kiện ấy?

Chia Sẻ

1. Con Thiên Chúa cao sang lại sinh ra trong cảnh tột hèn kém

Chúng ta thử tưởng tượng xem một vị hoàng đế trần gian nếu biết trước đứa con ḿnh sinh ra sẽ là vị cứu tinh của trần gian, th́ hoàng đế ấy sẽ chuẩn bị cho người con ấy chào đời như thế nào? Chắc chắn ông sẽ chuẩn bị cho con ḿnh một nơi thật xứng đáng, với quần áo, tă lót, chăn mền... thật sang trọng. Và cũng tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho người mẹ sẽ sinh ra con ḿnh. Chính v́ tưởng rằng Thiên Chúa trên trời cũng suy nghĩ như ḿnh, nên người Do Thái thời Đức Giêsu đă tưởng Đấng Cứu Thế sẽ phải sinh ra trong cung vàng điện ngọc. Nhưng họ không ngờ Thiên Chúa suy nghĩ khác hẳn với cách nghĩ của họ!

Theo Tin Mừng, Đức Giêsu đă sinh ra trong hang ḅ lừa. Đă là chỗ nuôi và chứa sức vật đương nhiên phải hôi tanh và bẩn thỉu. Chắc chắn Giuse và Maria phải hết sức ngỡ ngàng khi thấy Thiên Chúa đối xử với ḿnh, nhất là với Đấng Cứu Thế hài nhi như vậy! Nhục nhă thay cho Đấng Cứu Thế! Bất kỳ ai biết ḿnh chào đời trong một chỗ tối tăm và nhục nhă tận cùng như thế đều không tránh được mặc cảm cho rằng cuộc đời ḿnh cũng sẽ tối tăm và nhục nhă như thế!? Trước sự thật phũ phàng trước mắt, chắc hẳn phải có lúc hai ông bà nghi ngờ rằng: liệu lời thiên sứ nói với ḿnh về đứa trẻ ḿnh sinh ra có thật hay không? Nghi ngờ để rồi lại tự nhủ, tự an ủi, tự t́m lấy lư do để cố mà tin cho vững hơn! Thực tế thật phũ phàng, nhưng đó lại chính là thánh ư của Thiên Chúa. Muốn cứu thế giới khỏi những nhơ nhớp của tội lỗi, Con của Ngài cũng phải nhập thể từ chốn nhơ nhớp nhất của trần thế! Muốn đưa con người lên thật cao, Thiên Chúa nhập thể phải xuống cho thật thấp, thấp đến tận cùng!

2. Cách xếp đặt của Thiên Chúa… thật hết sức nghịch lư!

Thật là nghịch lư và không thể hiểu nổi cách Thiên Chúa đối xử với người Con độc nhất và hết sức yêu quí của Ngài, và với hai người đặc biệt mà Ngài chọn để hạ sinh, bảo vệ và nuôi dưỡng người Con ấy! Giuse và Maria đang sống yên lành tại Nagiarét, những tưởng đứa con trong bụng nàng sẽ ra đời tại nhà ḿnh ở làng ấy. Chắc hẳn chàng và nàng đă mua sắm đồ này vật nọ để chuẩn bị cho xứng đáng với chức vị cao cả của đứa bé sắp chào đời! Nào ngờ chiếu chỉ kiểm tra dân số của Hoàng Đế Rô-ma đă đảo lộn tất cả, đă đẩy đôi trai gái đức hạnh - chỉ biết nghĩ đến thánh ư Thiên Chúa - vào một cuộc phiêu lưu bất ngờ đầy gian khổ!

Từ làng Nagiarét vùng Galilê thuộc miền Bắc Do Thái, chàng và nàng phải vượt qua vùng Samari đầy đồi núi của miền Trung để về tận làng Bêlem vùng Giuđê thuộc miền Nam Do Thái. Đường chim bay đo theo tỷ lệ xích trên bản đồ cũng phải là 120 cây số, đường ng̣ng ngoèo trong thực tế hẳn phải trên 150 cây. Thời ấy có lẽ hai người phải dùng một con la để di chuyển. Hành tŕnh chắc chắn vất vả! Điều nghịch lư nhất nằm ở chỗ Thiên Chúa lại quan pḥng cho ngày phải di chuyển ấy xảy ra khi Maria mang thai đến thời kỳ sinh nở. Sau một hành tŕnh vất vả như thế, khi tới nơi những tưởng Thiên Chúa sẽ dành cho Con của Ngài một chỗ để sinh nở tương đối xứng đáng, nhưng khốn thay... tất cả mọi người mọi nơi đều từ chối! Nếu hai ông bà có tiền, chắc hẳn không đến nỗi! Chưa sinh ra, Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể đă phải đối diện với sự ích kỷ và tính coi trọng tiền bạc hơn t́nh nghĩa của con người! Không kiếm được chỗ để trọ và sinh con, hai ông bà đành trọ và sinh con trong chuồng súc vật!

Kết quả của những nghịch lư ấy là ǵ? ai phải khổ đây? Cả gia đ́nh gồm 3 người Giuse, Maria và Giêsu là khổ nhất. Phải chăng Thiên Chúa ghét và muốn đày đọa gia đ́nh này? Chắc chắn không phải! - Có thể nói đây là gia đ́nh quan trọng nhất, được Thiên Chúa quan tâm, ưu ái đặc biệt nhất! V́ thế, nếu đă xảy ra như vậy - đương nhiên là do sự quan pḥng vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa - th́ ắt hẳn đây phải là cách có lợi nhất cho đại cuộc cứu chuộc nhân loại. Như vậy, v́ đại cuộc, Thiên Chúa buộc những «người của Ngài» phải hy sinh, phải chấp nhận nhục nhă, đau khổ hơn những người khác. Nhưng bù lại, Ngài sẽ ân thưởng cho «người của Ngài» vinh quang, hạnh phúc cao quí nhất!

3. Nghịch lư... nhưng lại rất hợp lư và khôn ngoan

Như vậy ta thấy Thiên Chúa coi hạnh phúc hay đau khổ, vinh quang hay nhục nhă chóng qua trong hiện tại không quan trọng bằng hạnh phúc hay đau khổ, vinh quang hay nhục nhă lâu dài trong tương lai. Nếu phải chịu khổ hay chịu nhục một chút trong hiện tại để rồi được hạnh phúc hay vinh quang lâu dài trong tương lai, th́ ai khôn ngoan cũng đều sẵn sàng chấp nhận. C̣n nếu được hưởng hạnh phúc hay vinh quang thật ngắn ngủi trong hiện tại để rồi phải chịu đau khổ và nhục nhă lâu dài trong tương lai, th́ chỉ có người ngu mới chấp nhận! Những cha mẹ thật sự yêu thương con cái sẵn sàng chọn lựa để con cái ḿnh phải đau khổ hay chịu nhục nhă một chút hầu về sau chúng được hạnh phúc và vinh quang lâu dài. Bạn chưa tin ư? Này nhé, giả như bạn phải chọn lựa cho bạn hoặc cho con cái bạn giữa ba khả thể sau đây, th́ bạn chọn khả thể nào: một là đau khổ hiện tại 1 mà hạnh phúc tương lai 10, hai là đau khổ hiện tại 2 mà hạnh phúc tương lai 100, và ba là đau khổ hiện tại 3 mà hạnh phúc tương lai 1.000? Chắc chắn bạn sẽ chọn khả thể thứ ba. Thiên Chúa cũng chọn lựa cho những người Ngài đặc biệt yêu thương tương tự như vậy. Chính v́ thế, Ngài sẵn sàng để Đức Giêsu, Người Con độc nhất mà Ngài yêu quư nhất phải chịu đau khổ và nhục nhă ngay từ khi chào đời đến giây phút cuối cùng của cuộc đời để cứu chuộc nhân loại, hầu cuối cùng, trong vĩnh cửu, Đức Giêsu trở thành người hạnh phúc và vinh quang nhất không ai sánh bằng!

Nếu ta biết nh́n bằng con mắt đức tin và khôn ngoan như thế, th́ việc Đức Giêsu phải chịu đau khổ và nhục nhă từ khi sinh ra cho đến hết cuộc đời sẽ trở thành một sự kiện bảo đảm, một căn cứ để hy vọng, và một niềm an ủi lớn lao cho ta khi ta gặp phải những đau khổ lớn lao trong cuộc đời. Khi Thiên Chúa dành cho chúng ta đau khổ hay nhục nhă trong hiện tại, th́ điều đó không có nghĩa là Ngài ghét bỏ ta. Trái lại có thể là Ngài đang dành cho ta một ưu đăi, một sự yêu thương đặc biệt mà ta có quyền chấp nhận hay từ chối. Nếu tự nguyện chấp nhận th́ hạnh phúc và vinh quang của ta sẽ rất lớn, và lớn thế nào tùy thuộc vào chất lượng sự tự nguyện của ta và mức độ đau khổ ta sẵn sàng đón nhận. Nếu từ chối, ta sẽ bỏ lỡ một cơ hội quí báu mà Thiên Chúa v́ yêu thương đă dành cho ta, v́ «những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta!» (Rm 8,18).

Vậy, người thường hay kẻ không tin kêu ca về nghịch cảnh, về đau khổ ḿnh phải chịu th́ không có ǵ là lạ. Nhưng người Kitô hữu, người mang danh theo Chúa, người có lư tưởng tông đồ, người được Chúa chọn, được mang danh là «người của Ngài», mà lại than văn khi gặp nghịch cảnh th́ quả là... vẫn c̣n sống theo tính xác thịt, như thánh Phaolô đă phiền trách: «Tôi không thể nói với anh em như với những con người sống theo Thần Khí, nhưng như với những con người sống theo tính xác thịt, như với những trẻ nhỏ trong Đức Kitô. Tôi đă cho anh em uống sữa chứ không cho dùng thức ăn, v́ anh em chưa chịu nổi. Nhưng bây giờ anh em cũng vẫn c̣n không chịu nổi, v́ anh em c̣n là những con người sống theo tính xác thịt» (1Cr 3,1-3).

Cầu nguyện

Lạy Cha, Đức Giêsu sinh ra thật nhục nhă và sống một cuộc đời đầy đau khổ, nhưng đă sống lại trong vinh quang và trở thành Chúa Tể trời đất. Qua sự việc ấy con mới hiểu được giá trị của đau khổ. Đúng lư ra khi gặp đau khổ, nhục nhă, trái ư… con phải vui mừng v́ biết khi cho phép xảy ra như vậy là Cha thương con cùng một cách như Cha đă từng thương Đức Giêsu và bao vị thánh của Cha. Đúng ra con nên nói «con được đau khổ» chứ không phải «con bị đau khổ»!

 


14. T́m kiếm

Chuyện kể rằng, có hai người bạn chia tay nhau đi t́m điều quí giá nhất trên đời. Họ hẹn sẽ gặp lại sau khi đă t́m thấy. Người thứ nhất đi t́m viên ngọc quí. Bất cứ nơi nào bán đá quí, anh đều t́m đến. Cuối cùng, anh cũng măn nguyện v́ đă t́m được viên ngọc quí, anh trở lại quê hương chờ bạn.

Người thứ hai đi t́m Chúa. Anh đi khắp nơi thọ giáo các bậc thánh hiền, cặm cụi đọc sách, nghiền ngẫm, nhưng vẫn không t́m được Chúa.

Nhiều năm trôi qua, đang lúc tuyệt vọng, anh nh́n ḍng sông lững lờ: một đàn vịt con đang bơi lội tung tăng. Trong khi vịt mẹ t́m con, th́ bày con lại cứ muốn rời mẹ t́m ăn riêng. Vịt mẹ chẳng hề tỏ vẻ giận dữ, cứ lẽo đẽo theo bày con và gom chúng lại. Thấy cảnh vịt mẹ mải mê t́m con như thế, anh mỉm cười trở về quê hương.

Khi người bạn hỏi điều quí mà anh đă t́m được là ǵ, khiến gương mặt anh rạng rỡ như thế. Lúc đó, con người trở về với hai bàn tay trắng, nhưng tâm hồn tràn ngập niềm vui mới thốt lên: - Điều quí giá mà tôi đă t́m thấy, đó là trong khi tôi đi t́m Chúa, th́ chính Người đă đi t́m tôi. “Ngôi Lời đă nhập thể, và cư ngụ giữa chúng ta”. Nhiều khi chúng ta tưởng ḿnh đi t́m Chúa, nhưng thật sự là chính Chúa đi t́m chúng ta trước.

Ngay khi con người sa ngă phạm tội, Thiên Chúa đă lên kế hoạch cứu chuộc. Ngay khi con người phản bội bất trung, Thiên Chúa đă mở lối cho họ quay bước trở về. Ngay khi con người vô phương cứu lấy chính ḿnh, Thiên Chúa đă sai Con Một đem thân cứu độ.

Đêm nay là đêm giao duyên đất trời, đêm hội hoa đăng, đêm đầy ánh sáng, đêm Thiên Chúa viếng thăm con người. Đúng như thông điệp chứa chan hy vọng của tiên tri Isaia: “Một hài nhi đă sinh ra cho chúng ta và một Người Con đă được ban tặng cho chúng ta”.

Con người không thể lên tới Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đă xuống với con người. Chúa xuống trần gian để cho trần gian biết đường về trời. Chúa mặc lấy bản tính con người để cho con người trở nên con cái Chúa: Thánh Gioan viết: “Những ai tin ở Người th́ Người ban cho quyền được làm con Thiên Chúa”.

Giáng Sinh là mùa tặng quà: “Đức Giêsu là quà tặng quí giá nhất Thiên Chúa trao gởi cho con người”. Đến lượt ḿnh, chúng ta cũng hăy trao tặng cho anh em những ǵ họ cần thiết nhất, với tất cả ḷng yêu quí, trân trọng như chúng ta đang dâng tặng cho chính Hài nhi Giêsu. Những kẻ nhỏ bé nhất, những người cô độc nhất, những kẻ chịu nhiều đau khổ nhất lại chính là những con người cần được tặng quà nhất. Chúng ta cần chứng tỏ rằng họ đáng kể đối với chúng ta, rằng tên họ chiếm một vị trí trong quả tim chúng ta. Đó chính là quà tặng mà Hài nhi Giêsu đang mong đợi. Một cách nào đó, khi tặng quà, chúng ta muốn trao ban vô vị lợi, trao ban không tính toán, trao ban trọn vẹn. Mẹ Têrêsa Calcutta định nghĩa: “Kitô hữu là người trao ban chính bản thân ḿnh”.

 


15. Món quà vô giá

Trong sinh hoạt của đời sống thường nhật, mối tương liên giữa con người được thể hiện dưới nhiều h́nh thức khác nhau. Chẳng hạn như lời nói, thư từ, có khi là một cánh hoa hay là một tặng vật nào đó. Nhưng tất cả dù thể hiện dưới bất cứ h́nh thức nào nó cũng đều có chung một mục đích là diễn tả ư nghĩa của một sứ điệp mà người gởi muốn tỏ bày.

Sứ điệp đó có khi là ước muốn hoà b́nh của nhân loại trên thế giới gói ghém trong một viên gạch được lấy từ bức tường ô nhục Bá linh mà tổng thống Bush của Hoa Kỳ đă tặng Chủ tịch Gorbachov của Liên Xô trong cuộc họp thượng đỉnh ngoài khơi đảo Malta vào dịp Giáng Sinh năm 1989.

Sứ điệp đó cũng có khi là một lời mời gọi, một xă hội sống xa ĺa Thiên Chúa hăy trở về với chính nguồn sự sống như quyển Tân Ước mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă tặng nhà lănh đạo Liên Xô, Chủ tịch Gorbachov, cũng vào mùa Giáng Sinh năm 1989. Quyển Tân Ước có ghi hàng chữ: "Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống". Đó là tất cả những ǵ mà Đức Thánh Cha và toàn thể thế giới Công giáo gởi đến cho một xă hội đă từ lâu gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.

Trải qua hai ngàn năm, Thiên Chúa luôn tặng ban món quà vô giá là Người Con rất yêu dấu của Ngài cho xă hội, gia đ́nh và mỗi người chúng ta.

* Đối với xă hội:

Tiên tri Isaia và Thánh sử Luca cho chúng ta thấy quang cảnh: Một đoàn dân đang lầm bước trong lầm than, bao cái ác đè lên cổ dân, bao cái gậy đập xuống vai họ, bao ngọn roi của bọn hà hiếp, Thiên Chúa đến để bẻ gẫy trong ngày Con Ngài chào đời. Người Con đó đă bao phủ vinh quanh Thiên Chúa trên các mục đồng đang vất vả thức thâu đêm canh giữ đoàn chiên và tất cả lớp dân lao động sống trong bóng tối. Người là thủ lănh của họ và Người sẽ kiến tạo một xă hội an b́nh trên nền tảng chính trực, xă hội ấy sẽ tồn tại măi măi.

* Đối với gia đ́nh:

Biết bao gia đ́nh cô đơn, nghèo khó đang mang gánh nặng, chẳng hạn như trường hợp của Đức Mẹ và Thánh cả Giuse, mặc dầu nghèo khó và Đức Mẹ đă tới ngày "măn nguyệt khai hoa", vẫn sẵng sàng lên đường về cố hương để khai sổ kiểm tra dân số theo lệnh của nhà cầm quyền. Nô đơn đến nỗi cố hương Belem không c̣n bà con thân thích nào đón nhận. Nghèo túng đến nỗi không có tiền mướn được một chỗ trú đêm, đành sống thân phận của kẻ hành khất, ra đồng t́m nương thân nơi hang xúc vật. Con Thiên Chúa đă xuống thế làm người trong cái gia đ́nh nghèo khó ấy, Ngài không nổi loạn chống đối, chỉ biết vui sống trong hy sinh như Maria và Giuse, để chia sẻ thân phận nghèo hèn của họ, đưa lại vinh quang Thiên Chúa và b́nh an cho họ.

* Đối với cá nhân:

Sống trong một thế giới đầy dẫy những bất công, chỉ lo t́m hưởng thụ mà lăng quyên hoặc xa ĺa Thiên Chúa. Sự xuất hiện của Con Thiên Chúa thật là một món quà tuyệt vời; Người là cố vấn kỳ diệu, dạy chúng ta từ bỏ lối sống vô đạo và ham muốn trần tục, thoát khỏi mọi điều bất chính, thanh luyện chúng ta tiết độ, công b́nh và nhân ái ở đời này, nhờ đó chúng ta là dân riêng của Người. Người là Cha muôn thuở của chúng ta. Người đă tự hiến chịu chết để cứu chuộc chúng ta, ban cho chúng ta niềm hoan hỷ. Chúng ta sẽ hân hoan trước nhan Người, như thiên hạ hoan hỷ trong mùa gặt bội thu.

Chính v́ yêu thương, Thiên Chúa đă tặng ban món quà vô giá ấy cho xă hội, gia đ́nh, và từng người chúng ta.

Phần chúng ta, là những người của ngàn năm thứ ba, chúng ta có thái độ nào khi chiêm ngưỡng Hài Nhi Giêsu trong hang Belem? Chúng ta có biết đón nhận tặng ân của Thiên Chúa với tâm hồn đơn sơ như các mục đồng năm xưa, hay chúng ta lại trở thành khách bàng quang, thành những người tôi tớ mà khi chủ đến th́ chẳng thèm tiếp rước (Jn 11). Để rồi chỉ có đêm lạnh lùng băng giá, chính đêm ấy đă đón tiếp Người đến giữa nhân loại.

Lạy Chúa, Chúa đă trao ban cho chúng con tất cả, nhưng chúng con biết lấy ǵ dâng lại cho Chúa và anh em chị em chúng con? Chúng con xin lấy chính T́nh Yêu của Con Chúa mà chia sẻ những thống khổ anh chị em chung quanh chúng con đang gặp phải. Xin cho chúng con biết lấy Lời Chúa làm quà tặng cho những ai đang đói khát trong tăm tối tội lỗi, để ánh sáng huy hoàng Giáng Sinh của Chúa làm cho con tim họ bừng cháy trong an b́nh và hạnh phúc. Ước chi niềm vui Giáng Sinh ở cùng chúng con luôn măi. Amen.


16. Giáng Sinh: Ánh sáng

Vào một đêm kia, nhà văn Anh John Ruskin nh́n thấy những người thợ thắp đèn đường trong thành phố (lúc đó chưa có điện đường). Họ phải cầm một ngọn đuốc sáng trong tay, chạy đi thắp từng chiếc đèn này qua chiếc đèn khác dọc theo các con đường.

Trong đêm tối, Ruskin không thấy được người thắp đèn, ông chỉ nh́n thấy bó đuốc của người ấy và một vệt dài ánh sáng người ấy để lại đằng sau ḿnh. Qua h́nh ảnh đó, cụ già Ruskin đưa ra một nhận định hết sưcù thâm thúy : “Đây là một minh họa tuyệt đẹp về người Kitô hữu. Có thể người ta chẳng bao giờ nhận biết người ấy, cũng chẳng bao giờ gặp anh, nhưng họ đều biết anh ta đă đi qua thế giới của họ nhờ vào chuỗi ánh sáng anh để lại phía sau ḿnh”.

Giáng sinh là một biến cố vô cùng trọng đại, một trang sử mới của nhân loại, đầy huyền nhiệm và linh thánh, nối kết giữa trời và đất, giao ḥa giữa Thiên Chúa và loài người. V́ Hài Nhi Giêsu chính là ánh sáng rạng ngời, đă chiếu soi trần gian trong đêm u tối, nguồn ánh sáng của t́nh yêu, chân lư, và sự sống. Thánh Gioan đă viết : “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người”.

Thiên Chúa là Đấng quyền năng vô hạn, con người là phận hèn mọn. Thiên Chúa là Đấng sáng tạo muôn loài, con người là vật thụ tạo nhỏ nhoi. Trớ trêu thay, loài hay chết lại liều ḿnh xúc phạm đến Đấng cao cả. Phận tôi đ̣i lại cả dám ngạo mạn Đấng chí tôn. Vậy mà, con người tội lỗi chưa kịp lên tận trời cao để xin tạ tội, th́ Đấng Thánh vô cùng đă vượt lằn ranh vô biên, đích thân xuống với con người, để tha thứ, để cứu chuộc và yêu thương họ hơn cả trước khi con người phạm tội. Đứng trước đại hồng ân cao cả ấy, trí khôn con người chỉ c̣n biết bàng hoàng sửng sốt. Vâng, chính t́nh yêu đă làm nên những điều kỳ diệu. Thánh Gioan viết : “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một để những ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. Hài Nhi Giêsu chính là ánh sáng t́nh yêu từ trời xuống, đă thắp sáng màn đêm tăm tối của trần gian bằng t́nh yêu cứu thế. Đúng như lời ngôn sứ Isaia : “Dân đang lần bước giữa tối tăm đă thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.

Mang thân phận tội lỗi, con người chao đảo trong biển đời u mê lầm lạc, không biết đâu là bến bờ, nói chi đến hiểu biết về Thiên Chúa cao siêu thiện hảo. Chỉ có Hài Nhi Giêsu, ánh sáng rạng ngời chân lư, mới có thể chiếu tỏa ánh sáng thần linh của Người vào tâm trí con người để họ nhận biết Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương. Đó chính là mục đích hàng đầu của Đức Giêsu khi xuống trần gian. Thánh Gioan quả quyết : “Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa, và là Đấng hằng ở nơi cung ḷng Chúa Cha, chính Người đă tỏ cho chúng ta biết”.

Từ nguyên thủy, Ngôi Lời đă sống trong tương quan độc nhất với con người. Thật vậy, Người không chỉ là nguồn gốc của muôn loài, mà sự hiện diện của Người giữa chúng sinh c̣n tạo nên sự hiệp thông trong sự sống thần linh.

Aùnh sáng của Hài Nhi Giêsu khi đem xuống trần gian không chỉ xóa tan bóng tối của trí khôn, mà c̣n chiếu tỏa vào linh hồn con người ánh sáng trọn hảo nhất là chính Thiên Chúa. Người phán : “Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo Tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống”.

Mừng lễ Giáng sinh chính là cảm tạ Hài Nhi Giêsu đă đem ánh sáng huy hoàng của Người đến trong trần gian, trong tâm hồn chúng ta, và trong ḷng mọi người.

Mừng lễ Giáng sinh chính là bắt chước Gioan, làm chứng cho ánh sáng : là chiếc đèn soi đường cho thế gian, là ngọn đuốc chỉ lối cho mọi người đến cùng Thiên Chúa.

Mừng lễ Giáng sinh chính là thực thi những điều thiện hảo, v́ “ai làm điều ác th́ ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách”.


17. Ngôi Lời là ánh sáng thật

Suy Niệm

Máng cỏ luôn làm cho chúng ta rúng động, v́ đứng trước máng cỏ là đối diện với một T́nh Yêu, một T́nh Yêu mở ra bao la bát ngát. Cha đă mở ra bằng cách sai Con xuống thế làm người. Con đă mở ra bằng cách vâng phục ư Cha. Thánh Thần đă mở ra bằng cách tác động nơi ḷng Đức Trinh Nữ.

Máng cỏ giúp ta gặp được T́nh Yêu của Ba Ngôi, T́nh Yêu không lùi bước trước sự khép kín của nhân loại.

Đến Bêlem, chúng ta bắt gặp một T́nh Yêu khiêm tốn. Thiên Chúa đă cúi xuống để tặng trao cho con người. Con Thiên Chúa làm người sinh nơi hang súc vật, không một chút hào quang: Ngài sinh ra trong đêm tối; không một chút quyền lực: Ngài là trẻ thơ khóc oe oe. Đấng siêu việt nay chịu giới hạn bởi thời gian. Đấng Tuyệt Đối lại mang một thân xác hữu hạn.

T́nh Yêu khiêm tốn không làm chúng ta bị choáng ngợp. không ban bố một cách cha chú, nhưng biết gơ cửa và chờ đợi.

Thiên Chúa giàu sang đă trở nên nghèo để chúng ta được trở nên giàu có (2Cr 8,9).

Hơn hai ngàn năm đă trôi qua kể từ khi Ngôi Lời đặt chân trên trái đất. Ngài đă thắp lên ánh sáng trong bóng đêm. Ngài chính là Ánh Sáng chiếu soi mọi người (Ga 1,9). Tiếc thay nhiều người đă chọn bóng tối, v́ bóng tối dễ chịu hơn, đồng lơa hơn (Ga 3,19). Bóng tối ở ngoài tôi và bóng tối ở trong tôi.

Ngôi Lời đă đến nhà của Ngài, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 1,11).

Đức Giêsu c̣n phải nhập thể cho đến tận thế.

Truyền giáo là làm cho Ngài được sinh ra ở đây, hôm nay, trong ḍng văn hoá truyền thống của dân tộc, trong những biến chuyển của đất nước thời mở cửa, trong thế giới đă bước qua năm 2000.

Sống mầu nhiệm Nhập Thể là trở nên một Maria khác, đón nhận Đức Giêsu vào đời ḿnh, cưu mang Ngài, và sinh Ngài cho thế giới.

Cuộc sinh hạ nào cũng bắt trắc và đau đớn. Xin thắp lên một ngọn nến từ Ánh Sáng của Ngôi Lời. Xin gom lại trăm triệu ngọn nến để đẩy lui bóng tối trên mặt đất.

Gợi Ư Chia Sẻ

Ngôi Lời đă làm người và đă sống ở đời. Mầu nhiệm Nhập Thể có làm bạn yêu đời và yêu phận người của bạn hơn không?

Làm sao để Chúa Giêsu được sinh ra trong môi trường bạn đang sống?

Cầu Nguyện

Giữa giá rét của mùa đông, xin cho con gặp Chúa.

Giữa những long đong và bấp bênh của phận người, xin cho con gần Chúa.

Giữa cảnh nghèo khó và trơ trụi, xin cho con thấy Chúa đi với con và hiểu con.

Lạy Chúa Giêsu bé thơ nằm trong máng cỏ, xin cho con cảm được sự b́nh an của Chúa, ngay giữa những âu lo hàng ngày.

Xin cho con đón lấy cuộc đời con với bao điều không như ư.

Và cuối cùng, xin cho con dám sống như Chúa v́ Chúa đă dám sống như con.


18. Đêm Thánh

V́ sao gọi lễ cử hành hôm nay là “Đêm Thánh”? Nói cho ngay, về lịch sử, ta không có cơ sở nào để khẳng định rằng Hài Nhi Giêsu đă chào đời vào ban đêm. Đành rằng chúng ta có bản tŕnh thuật kể chuyện các mục đồng canh giữ súc vật trong đêm tối và họ nghe sứ điệp từ trời báo tin về cuộc sinh hạ của Đấng Cứu Thế, nhưng tự nó, bản tŕnh thuật ấy cũng không phải là bằng chứng cho phép ta kết luận rằng Đức Giêsu đă sinh ra vào ban đêm. Thế nhưng, truyền thống Kitô giáo vẫn luôn cho rằng cuộc chào đời hồng phúc này của Đấng Cứu Thế đă diễn ra trong một đêm tối. Người Đức thậm chí hội nhập niềm xác tín ấy vào chín tên gọi của lễ mừng: Weih-nacht (Đêm Thánh). V́ sao?

Đêm tối, đối với con người, vẫn có hai khía cạnh. Nó mang một ư nghĩa kép, một ư nghĩa “hàm hồ”- cũng như hầu hết mọi yếu tố khác trong cuộc đời này. Đêm tối gợi lên một cái ǵ thâm u, huyền bí, là thời gian mà không ai có thể làm việc- như Đức Giêsu nói đến trong Thánh Kinh. Đêm tối được cảm nhận gần như là sự chết. Đêm tối là bất định, bất quyết và hiểm nguy. Đêm tối là trùng khơi mịt mù. V́ thế, trong cảnh vực tôn giáo, đêm tối mang đầy ư nghĩa biểu tượng. Trong Thánh Kinh, đêm tối tượng trưng cho thời gian bất tín và tội lỗi, thời gian Chúa đến thăm và phán xét. V́ thế, Kitô hữu phải là con cái của ban ngày, họ phải chiếu sáng như những v́ sao trong bóng đêm – để không bị bất ngờ bởi vị thẩm phán đến th́nh ĺnh như kẻ trộm giữa đêm khuya. Chúng ta phải tỉnh thức, chúng ta không được ngủ say, chúng ta phải trỗi dậy và bước đi như thể đang bước đi giữa ánh sáng ban ngày.

Nhưng trong cảm nhận của con người, cũng được hàm chứa trong Thánh Kinh, đêm tối c̣n có một khía cạnh khác nữa. Đêm tối là lúc thinh lặng và rút lấy sức mạnh. Đó là lúc chỉ c̣n ḿnh với ḿnh, sẵn sàng đợi chờ và cho phép mọi sự triển nở, lớn lên. Chính vào lúc nửa đêm mà người ta nghe tiếng kêu: “Ḱa chàng rể đến!”. Đêm tối trong Thánh Kinh c̣n là thời gian của những giấc mơ hướng vọng trời cao. Đêm tối là thời gian thoát ly khỏi những ràng buộc của nhịp sống ban ngày, nên đó là thời gian cầu nguyện – v́ thế, Đức Giêsu đă trải qua những đêm trắng cầu nguyện cùng Cha. Đêm tối được nh́n nhận như công tŕnh của Thiên Chúa – và tác giả Thánh vịnh có thể thốt lên: “Ngày là của Chúa, đêm cũng là của Chúa…” (Tv 74,16). Daniel (3,71) kêu gọi đến bóng đêm chúc tụng Thiên Chúa – và theo tác giả Thánh vịnh, “đêm này kể lại với đêm kia” sứ điệp về vinh quang Thiên Chúa (19,3), cũng như trời xanh mênh mông nhắc cho ta về sự vĩ đại của Ngài.

Tại sao chúng ta có thể cảm nhận về đêm tối theo những chiều hướng khác nhau như thế? Chúng ta kinh nghiệm đêm tối như một sự bắt đầu, như một cái ǵ đó vẫn c̣n bất định, nhưng cái đến sau đêm tối th́ hết sức rơ ràng: đó là một b́nh minh rực rỡ! Tuy nhiên, sự bắt đầu và những khả năng ẩn chứa trong sự bắt đầu ấy thường rất bấp bênh – như một lời hứa nghe thật hay nhưng chưa được thực hiện, như một triển vọng to lớn nhưng chưa hiện thực, như một kế hoạch tuyệt vời nhưng chưa được triển khai… Tất cả đều c̣n đó ư nghĩa hàm hồ: vừa đầy hứa hẹn lại vừa đầy đe doạ, dự phóng sẵn đó rồi mà mục tiêu c̣n quá xa xôi và không chắc sẽ có ngày hoàn tất…

… Nhưng nếu có một đêm tối mà cái khởi điểm vô định lại mang sẵn trong ḿnh nó sự chắc chắn hoàn thành, nếu có một đêm tối mang sẵn trong ḿnh nó mối bảo đảm khải thắng, nếu có một đêm tối mở ra lời hứa song đồng thời cũng là lời hứa được lấp đầy … th́ đêm ấy hẳn phải là Đêm Thánh. Đêm! V́ chỉ mới khởi đầu thôi. Đêm Thánh! V́ đây là một khởi đầu hồng phúc và tất thắng. Với một đêm như thế, chúng ta phải thốt lên: Ôi, Đêm Thiêng! Đêm Thánh! Như bài ca nào đó đă trở thành bất hủ: “Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng…”.

Không phải t́nh cờ mà vào thế kỷ thứ tư, lễ này được đặt vào đúng thời điểm mà thiên nhiên – cách riêng mặt trời – bắt đầu lại chu kỳ của nó. Thời ấy, người ta gán sự bắt đầu của “Mặt Trời Công Chính” (danh hiệu của Đấng Cứu Độ chúng ta theo sấm ngôn) cho ngày natalis solis invicti của dân ngoại, tức lễ mừng sinh nhật “thần mặt trời bất khuất”.

Một gán ghép vô cùng chính xác! V́ đây là phút giờ thánh thiêng. Đức tin cho các Kitô hữu biết rằng: Đây là sự khởi đầu. Thiên Chúa, từ ánh sáng chói lọi ‘khủng khiếp’ của Ngài, đă đến với chúng ta – thật lặng lẽ, thật êm dịu. Ngài đó, Thiên Chúa đó, đă âm thầm bước vào cơi dương trần khốn khổ của chúng ta. Ngài đă làm người, và Ngài bắt đầu một kiếp người y như chúng ta: rất bé nhỏ, rất mong manh, yếu ớt, bất lực. Ngài là tương lai vô cùng thăm thẳm mà chúng ta không bao giờ có thể tự ḿnh vươn tới được – bởi v́, trên con đường gập ghềnh của cuộc sống ḿnh, ta càng sấn đến, chân trời ấy càng lùi xa. Nhưng chính Ngài đă đến với ta, đă đến ở giữa ta – v́ nếu chẳng vậy, ta sẽ không bao giờ có thể đến được với Ngài.

Ngài đồng hành với chúng ta trên con đường chúng ta đi về với Ngài – nhờ đó, con đường chúng ta đi chắc chắn có một đích điểm hồng phúc. Kỳ thực, đích điểm ấy đă hoá nên khởi điểm của chúng ta rồi. Thiên Chúa đă ở bên ta. Lời ân phúc vĩnh cửu của Ngài đă ở giữa chúng ta. Lời ấy gieo bước hành tŕnh với ta, cảm nghiệm niềm vui nỗi buồn của ta, sống cuộc sống và chết cái chết của ta. Ngài đă cứu chuộc ta, bằng con đường san sẻ chính số phận của ta. Ngài lấy khởi điểm của ta làm khởi điểm của Ngài. Ngài bước đi trên con đường định mệnh của ta và – qua đó – mở định mệnh ấy ra tới tầm vô hạn của Thiên Chúa. Và bởi v́ Ngài dứt khoát chấp nhận chúng ta, bởi v́ Ngôi Lời Thiên Chúa sẽ không bao giờ ngừng là người, nên khởi điểm này – của ta và của Ngài – là khởi điểm của những lời hứa không thể xóa nhoà, và sự bắt đầu lặng lẽ của Ngài trong đêm tối ấy đă làm cho nó trở thành Đêm Thánh Thiêng!

Cử hành Giáng Sinh là cử hành mầu nhiệm Đêm Thánh ấy. Con tim chúng ta phải lắng đọng, thanh thoát, và phải mở rộng ra như quả tim của một trẻ thơ chưa hề biết khép lại trước bất cứ khả tính nào của hiện hữu ḿnh, nhưng hoàn toàn sẵn sàng đón nhận tất cả…

Chúng ta phải dám ôm lấy sự yên lặng thâm u này vào tận đáy hồn ḿnh bằng cách không chạy trốn vào công việc làm ăn, vào những cuộc chè chén hay những câu chuyện gẫu lê thê mà ta dùng để tránh né chính ḿnh và tránh né mầu nhiệm phủ xuống trên ḿnh (bởi v́ – do lạ lẫm – chúng ta đâm ra hoảng sợ trước mầu nhiệm của t́nh yêu vô hạn ấy). Đêm Thánh là đêm mà cả cuộc sống của chúng ta cũng trở thành thánh thiêng; chúng ta không được phép xúc phạm đến Đêm Thánh bằng những cuộc vui quá đỗi trần tục. Tính cách chân t́nh, giản dị, hồn nhiên – vốn hoàn toàn phù hợp với Lễ này – cũng phải giữ cho được sự trong suốt trước mầu nhiệm khôn tả, mầu nhiệm làm cho người ta thân t́nh sâu xa với nhau và trao cho họ lời hứa xuân xanh măi măi.

Lễ Giáng Sinh phải được cử hành như nó đáng được cử hành, nếu không, nó sẽ tha hoá thành một lễ hội thuần tuư trần tục. Trong thinh lặng của Đêm Thánh cô tịch này và trong ḷng dạt dào cảm mến, chúng ta chấp nhận rút vào trong đáy ḷng ḿnh tất cả những con người, những sự vật, những loay hoay căng thẳng vốn thường dễ che khuất không cho ta nh́n cái vô cùng – chỉ khi ấy chúng ta mới có thể cử hành Lễ Giáng Sinh đúng nghĩa. Đôi khi, ít nhất là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi nào đó, người ta dập tắt những ánh sáng trần tục vốn che khuất không cho phép ḿnh nh́n thấy sao trời, và người ta đặt ḿnh trước sự hiện diện kỳ diệu khôn tả của Thiên Chúa, sự hiện diện “lên lời” bằng chính cái thinh lặng của nó, và ta chỉ có thể ‘nghe’ được nếu biết lắng nghe. Chúng ta hăy cảm nhận như khi một ḿnh bước đi dưới bầu trời đêm đông đầy sao; Chúng ta vẫn nghe bịn rịn nhớ nhung hơi ấm của người thân và của tất cả những ǵ quen thuộc dưới mái nhà ḿnh, nhưng phía trên đầu chúng ta là bầu trời, và trong sự yên ắng ấy của màn đêm (sự yên ắng mà vào những lúc khác có thể làm cho chúng ta kinh sợ), chúng ta bắt gặp sự hiện diện lặng lẽ của mầu nhiệm vô cùng: mầu nhiệm hiện hữu của ḿnh, mầu nhiệm vừa đầy ắp t́nh yêu cứu độ vừa lớn lao khôn ḍ.

Giáng Sinh là Đêm Thánh! Cái tương lai vô cùng đă đi vào trong thời gian của chúng ta rồi. Ánh sáng chói loà của nó vẫn c̣n tràn ngập chúng ta. Và ta nghĩ chắc hẳn Chúa đă ra đời vào một đêm tối! Dù ǵ đi nữa th́ đó cũng là đêm, một đêm hồng phúc, một đêm ngập tràn hơi ấm và ánh sáng, một đêm rất tuyệt diệu và rất thực – bởi không ǵ chắc chắn bằng ngày vĩnh cửu mà đêm này cưu mang trong ḿnh nó. Tuy nhiên, đêm này chỉ là Đêm Thanh, Đêm Thánh cho chúng ta nếu chúng ta đón nhận sự yên lặng thánh của đêm này vào trong trái tim ḿnh, nếu trái tim chúng ta thức tỉnh.

Sự yên lặng và cô tịch ấy nào quá gay go! Cái khó, nếu có, là cái khó chung của mọi điều cao cả: nó vừa thật đơn giản vừa rất lớn lao! Không khó, v́ dĩ nhiên cái cô tịch vốn nằm sẵn trong ta. Trong trái tim ta vốn có một vùng sâu kín của riêng ḿnh, một vùng mà không ai có thể ḍ dẫm tới ngoại trừ Thiên Chúa. Nơi sâu thẳm ấy thực có đó. Vấn đề là chúng ta ngu ngơ sợ hăi và tránh né nó – ta sợ, v́ không ai và không ǵ quen thuộc trên đời này có thể đi theo ḿnh nếu ḿnh bước chân vào vùng đất ấy! Nào, đừng sợ nữa, hăy lặng lẽ bước vào và đóng cửa lại phía sau ḿnh. Hăy lắng nghe giai điệu vô ngôn vang lên trong yên ắng của màn đêm cô tịch.

Ở đó, linh hồn ta tấu lên với Thiên Chúa khúc ca trầm lắng nhất và nồng nàn nhất. Và ta tin chắc rằng Ngài đang nghe ḿnh rất rơ. V́ khúc ca ấy không c̣n phải kiếm t́m đến một Thiên Chúa trên trùng khơi thăm thẳm chẳng thể nào ḍ tới được. Chúa đă giáng sinh rồi, Ngôi Lời đă trở thành xác phàm, nên Ngài đang ở ngay đây – và lời nói thầm th́ nhất trong đáy ḷng ta, lời nói tỏ t́nh, sẽ được Ngài lắng nghe rất rơ. Và những ai đă bước vào trong cơi cô tịch của ḷng ḿnh như thế, ngay cả dù tối tăm thăm thẳm, nhất định sẽ nghe được tiếng thầm th́ yêu thương của Ngài. Nào, đừng sợ đêm tối nữa, và hăy lắng hồn xuống. Nếu không, chúng ta sẽ chẳng nghe ǵ. V́ tiếng nói cuối cùng chỉ cất lên trong sự yên lặng của đêm tối – đêm tối đời ta – qua sự xuất hiện hồng phúc của Ngôi Lời. Ngài đă đến rồi đây.

Đêm Thánh vô cùng…

Giây phút tưng bừng…

 


CHÚ GIẢI

1. Chú giải của William Barclay

ĐƯỜNG VỀ BÊLEM (Lc 2, 1-7)

Trong đế quốc Rôma có những cuộc kiểm tra dân số định kỳ nhằm hai mục đích: vừa để đánh thuế, vừa để t́m ra những ai đang ở tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Dân Do Thái được miễn nghĩa vụ quân sự, v́ thế việc kiểm tra dân số ở xứ Palestine chỉ có mục đích chính là đánh thuế. Về những cuộc kiểm tra dân số, chúng ta có được những thông tin xác đáng về những ǵ đă được thực hiện tại Ai Cập, và gần như chắc chắn rằng những ǵ đă được thực hiện tại Ai Cập cũng thực hiện tại Syri và tại Giuđê, một phần của tỉnh Syri. Những thông tin về các cuộc kiểm tra dân số được t́m thấy trong các tài liệu viết trên giấy chỉ thảo phát hiện được trong các lớp cát bụi tại các thành thị, làng mạc Ai Cập hoặc dưới lớp cát sa mạc. Các cuộc kiểm tra dân số như vậy cứ 14 năm diễn ra một lần. Chúng ta có được các tài liệu kiểm tra dân số từ năm 20 SCN đến 270 SCN. Nếu chu kỳ 14 năm được giữ đúng ở Syri th́ việc kiểm tra dân số đề cập ở đây hẳn đă diễn ra vào năm thứ 8 TCN, đó chính là năm Chúa Giêsu được sinh ra. Có thể Luca đă có một chút lầm lẫn, Quiriniô chỉ thực sự làm tổng đốc xứ Syri vào năm 6 TCN, nhưng ông đă từng cầm quyền tại các miền đó từ năm 10 TCN đến 7TCN, và việc kể trên đă diễn tiến trong chính thời kỳ thứ nhất này. Các nhà phê b́nh thường đặt câu hỏi: có phải mọi người đều phải về sinh quán của ḿnh để đăng kư không? Ở đây chúng ta nắm được chính sắc lệnh của nhà nước từ Ai Cập như sau: “Gaius Vibius Maximus, tổng trấn xứ Ai Cập truyền lệnh: Xét rằng đă đến kỳ làm sổ từng nhà, nên cần bắt buộc hết thảy những ai, đă v́ bất cứ lư do ǵ mà hiện đang cư trú ngoài địa phận ḿnh, phải trở về quê nhà, để có thể thi hành lệnh kiểm tra dân số theo quy định, và cũng để có thể chăm lo việc cày cấy đất ruộng ḿnh”. Nếu đó là trường hợp tại Ai Cập th́ cũng chính là trường hợp tại Giuđê là nơi c̣n giữ kỹ những gia phả ḍng tộc và đàn ông phải về bản doanh của bộ tộc ḿnh. Đây thêm một bằng cớ giúp ta hiểu biết hơn về sự chính xác của Tân Ước.

Con đường từ Nagiarét tới Bêlem dài 128 dặm, những tiện nghi cho khách trọ rất sơ sài. Quán trọ bên phương đông thời bấy giờ giống như từng dăy chuồng ngựa có cửa mở ra một cái sân chung. Mỗi khách trọ tự liệu thức ăn cho ḿnh, chủ quán chỉ cung cấp đồ ăn cho súc vật và một bếp lửa để nấu nướng. Có đông người quá nên không c̣n chỗ cho Giuse và Maria, thế nên con trai của Maria đă sinh ra nơi khoảng sân chung đó. Khăn bọc hài nhi là một cái tă. Trước tiên người ta bọc hài nhi trong tấm vải vuông rồi quấn băng dài chung quanh ḿnh nhiều ṿng. Chữ được dịch là máng cỏ, nơi để súc vật ăn, có thể đó là một chuồng ḅ hoặc một máng cỏ. Việc quán trọ không c̣n chỗ tượng trưng cho những ǵ xảy ra cho Chúa Giêsu. Chỉ một nơi có chỗ cho Chúa Giêsu là thập giá. Ngài t́m một lối vào trong những tấm ḷng chật chội của loài người mà không t́m được, và Ngài vẫn cứ tiếp tục t́m kiếm, mặc dù vẫn cứ bị chối bỏ.

MỤC ĐỒNG VÀ THIÊN SỨ (Lc 2, 8-20)

Một điều lạ lùng là câu chuyện cho chúng ta biết bao lời báo tin đầu tiên của Chúa được gửi đến cho các người chăn chiên. Vào thời bấy giờ, giới mục đồng bị những người chính thống coi khinh. Họ không có đủ khả năng để giữ trọn các chi tiết của bộ luật nghi lễ, họ không thể giữ đúng các nghi thức rửa tay tỉ mỉ và các luật lệ khác. Họ quá bận bịu săn sóc bầy chiên, v́ thế, giới chính thống coi họ rất thấp kém. Sứ điệp của Chúa trước tiên đă đến với họ là những người đơn sơ nơi đồng ruộng. Nhưng nhóm mục đồng này có lẽ là những mục đồng đặc biệt. Trong Đền Thờ, sáng và chiều đều có một con chiên không t́ vết làm của lễ dâng lên Chúa. Để lúc nào cũng sẵn có của lễ toàn vẹn và không t́ vết ấy, các quan chức cai quản Đền Thờ nuôi riêng những bầy chiên của họ, và các bầy chiên này được chăn ở gần Bêlem. Cho nên chúng ta có thể tin là nhóm mục đồng đó đang coi giữ những bầy chiên dành làm của lễ trong Đền Thờ. Thật ư nghĩa biết bao khi nhóm người coi sóc bầy chiên của Đền Thờ lại là những người đầu tiên được ngắm xem chiên của Thiên Chúa là Đấng xóa tội lỗi thế gian.

Chúng ta đă biết khi một bé trai được sinh ra th́ các nhạc sĩ địa phương tụ tập lại nhà để chúc mừng bằng một khúc nhạc đơn sơ. Chúa Giêsu đă sinh trong một chuồng ḅ ở Bêlem, v́ thế chi tiết đă không được thực hiện. Thật vô cùng ư nghĩa khi đoàn ca sĩ trên trời thay thế các ca sĩ dưới đất và các thiên sứ đă hát những bản ca ngợi Chúa Giêsu là những bản nhạc mà các ca sĩ trần gian không hát nổi.

Qua những lời Kinh Thánh này, chúng ta phải suy tưởng đến vẻ đơn sơ thanh bạch trong sự giáng sinh của Con Thiên Chúa. Chúng ta dễ nghĩ rằng nếu Con Thiên Chúa ra đời, th́ chắc Ngài sẽ sinh ra trong một đền đài hay một dinh thự. Ngày xưa, ở Châu Âu, có một ông vua thường khiến triều thần lo ngại v́ ông hay cải trang để trà trộn vào dân chúng. Khi quần thần yêu cầu ông đừng làm thế v́ lư do an ninh, th́ ông trả lời “Trẫm không thể trị dân nếu trẫm không biết nhân dân ta có một Thiên Chúa hiểu thấu đời sống chúng ta, v́ Ngài đă sống cuộc đời như chúng ta, không đ̣i hỏi ǵ khác hơn một đời sống b́nh thường”.


2. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

SINH HẠ, CẮT B̀ VÀ ĐẶT TÊN

CHO TRẺ GIÊSU (Lc 2, 1-20)

Từ đây bản văn sẽ phá vỡ tiến tŕnh song song. Thực vậy, có hai khác biệt lớn lao giữa cảnh này và cảnh trước. Đối với Người Con của Đức Maria, Luca nêu bật trước hết cảnh sinh ra, trong khi việc cắt b́ và đặt tên ông chỉ nhắc đến rất vắn tắt (c.21), điều này ngược với trường hợp của Gioan. Phần khác, một mặc khải đi liền theo sau việc cắt b́ của vị tiền hô; nhưng việc tuyên sấm của ông Giacaria không có tầm vóc rộng lớn như cảnh sinh ra của Chúa Giêsu được gọi là Phúc Âm, Tin Mừng (c.10). Và nhất là, đối với Chúa Giêsu, cảnh mặc khải theo nghĩa chặt sẽ được chuyển đến cảnh tiếp theo trong Đền Thờ.

Các câu 1-7 tŕnh bày việc kiểm tra dân số, hành tŕnh của cha mẹ rồi việc sinh con trai đầu ḷng. Sắc chỉ của Xêda Augustô gây khó khăn về phương diện lịch sử. Đúng là Quirinô đă cho tiến hành kiểm tra dân số xứ Giuđêa khi tỉnh này thuộc quyền cai trị trực tiếp của Rôma; điều đó đă gây ra cuộc nổi loạn của Giuđa người Galilê (Cv 5,37: có Giuđa người Galilê nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với ḿnh; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác). Nhưng vào khoảng năm 6 hoặc 7 SCN, lúc đó Chúa Giêsu đă chừng mười tuổi rồi –Người sinh ra dưới triều Hêrôđê (Lc 1,5; Mt 2,1), ông này băng hà vào năm 4 TCN. Như vậy Luca đă lầm khi, trong bài khởi đầu long trọng này, muốn đăng kư Chúa Giêsu vào lịch sử thế giới– ông sẽ làm lại một cách đầy đủ hơn ở 3, 1-2 và cũng tỏ bày cho thấy Thiên Chúa sử dụng sắc chỉ của Xêda. Trong sách Công Vụ, Thiên Chúa c̣n sử dụng các luật lệ La Mă để dẫn dắt Phaolô đến rao giảng Tin Mừng ở Rôma… nhất là điều đó đă là một cái cớ cho cuộc hành tŕnh, là một cái cớ bởi v́ những cuộc kiểm tra như thế luôn luôn làm ở nơi thường trú chứ không làm ở nguyên quán.

Thực ra nhờ truyền thống (x. Mt 2,1) Luca biết rằng con trẻ sinh ra ở Bêlem, thành của Đavít, địa điểm này cho phép nhấn mạnh một lần nữa rằng Chúa Giêsu là con cháu (c.4) Đavít. Tuy nhiên, Luca không trích dẫn sấm ngôn của Mk 5,1 (x. Mt 2,6); thực vậy rất hiếm thấy những trích dẫn rơ ràng ở Luca 1-2. Thực vậy, đích điểm của cuộc hành tŕnh không phải chỉ là Bêlem mà chính là một máng cỏ trong thành này. Pḥng trọ chật chội đến nỗi phải đặt em bé sơ sinh nằm trong máng cỏ, diễn ngữ này được dùng tới ba lần (c. 7.12.16) và điều ấy muốn nói rằng đó là kết quả của sáng kiến của Thiên Chúa. Mà có nơi nào ư nghĩa hơn đối với các mục tử cho bằng máng cỏ? Như vậy là chúng ta được quy hướng tới mấy chú mục tử này.

Luca lại dùng một lần nữa công thức thần học: “(những) ngày bà phải sinh con đă tới (hoàn tất)”, ông nói đến con trai đầu ḷng để chuẩn bị cho việc dâng con trong Đền Thờ (2,23).

Bây giờ đến cảnh mặc khải cho các mục tử (cc. 8-14). Tại sao những người làm một nghề như thế lại được đón nhận mặc khải này? Hẳn là có một liên hệ văn chương giữa thành Bêlem và đề tài mục tử: Khi ấy Đavít chăn đàn súc vật của cha ông ở Bêlem (1Sm 16,11; 17,15), nhưng Luca không nói rơ về chuyện ấy, điều ông quan tâm nhiều hơn đó là các mục tử ở Palestin vẫn bị mang tiếng xấu, người ta thường coi họ là những kẻ bất lương và trộm cắp. Sách Tamud Babylon đă xếp họ vào một nhóm những người bị coi là kẻ tội lỗi: “Những mục tử và những người thu thuế th́ khó mà sám hối được”. Những người bị khinh dể ở cấp bậc thấp nhất trong xă hội lại là những người đầu tiên được nói đến nhờ việc đản sinh của một em bé có mẹ là một người khiêm hạ (1,48) và sẽ mang Tin Mừng đến cho những người nghèo (4,18). “Tác động hướng về máng cỏ là dấu chỉ cho những người chăn chiên tội lỗi nhận ra được Đấng Cứu Tinh đă đến (B. Trémel); con trẻ sơ sinh đă là người sẽ đón tiếp những kẻ tội lỗi và sẽ ăn uống đồng bàn với họ (15,2)

Mặc khải đích thực (cc. 9-12) có nhiều yếu tố nhắc nhở những tŕnh thuật về việc báo tin cho ông Giacaria và cho Đức Maria, chỉ có các vấn nạn là được bỏ đi. Sứ thần của Thiên Chúa thay thế cho thiên sứ Gabriel, việc đản sinh Chúa Giêsu được gọi là Tin Mừng, việc ấy sẽ tạo ra một niềm vui lớn: Ba tước hiệu được dành cho trẻ sơ sinh là: Hôm nay, Đấng Cứu Tinh là Đấng Kitô Đức Chúa đă sinh ra cho các ngươi, là những người nghèo và dân tộc bé nhỏ. Ba tước hiệu đều đến từ lời tuyên xưng niềm phục sinh của Giáo Hội, hai tước hiệu cuối ở môi trường Do Thái, tước hiệu thứ nhất ở môi trường lương dân để đi đôi với việc tôn thờ hoàng đế Xêdarê như vị cứu tinh. Như vậy, lời loan giảng của Giáo Hội mà Phêrô và Phaolô sẽ thực hiện sau này đă được mặc khải cho các mục tử.

Dấu chỉ –có ở đây như ở trong hai tŕnh thuật báo tin, nhưng các người chăn chiên không đ̣i hỏi– th́ rất trái ngược với tước hiệu Kitô học: điều đó cho phép những ai t́m dấu chỉ ấy sẽ gặp Hài Nhi mới sinh được bọc khăn, Hài Nhi ấy được đặt trong một máng cỏ chứ không phải là trong một chiếc nôi ở một đền đài đế vương nào đó. Độc giả có thể ngạc nhiên trước sự kiện dấu chỉ không có ǵ kỳ diệu. Trong khi Israel có thể chờ đợi Đấng Mêsia sinh ra với những dấu chỉ gây ngạc nhiên (x. ngôi sao dẫn đường các đạo sĩ ở Mt 2,2-9), dấu chỉ ở đây thích hợp với Đấng sẽ là vị Mêsia khiêm tốn và đau khổ của những kẻ nghèo, dấu chỉ ấy đặc biệt am hợp với những người chăn chiên.

Bấy giờ có tiếng khen ngợi của một nhóm đông vô kể của các thiên sứ (cc. 13-14) hợp với vị thiên sứ vừa tuyên bố Tin Mừng; bài thánh thi ngắn gọn mời các mục tử và các độc giả nhận ra quyền năng của Thiên Chúa, Đấng, qua việc đản sinh của Người Con Đức Maria, sẽ đem lại b́nh an, yên ổn, ḥa hợp và thịnh vượng cho dân là đối tượng của ḷng nhân hậu Ngài. Không đặt vấn đề thiện tâm mà con người có hay không để đón nhận hồng ân của Thiên Chúa.

Cảnh diễn ra trong các câu 8-14 tập trung vào những vị sứ giả từ trời: loan báo Tin Mừng và lời ngợi khen có tính cách phụng vụ. Tin Mừng từ Thiên Chúa được thông báo cho các mục tử trước khi họ loan truyền cho dân. Như ở phần trước, những chi tiết hữu h́nh mắt thấy được bị hạn chế tối đa.

Cho tới lúc đó, các mục tử ở trong tư thế thụ động; họ không c̣n thụ động nữa trong cảnh tiếp theo, nơi đó thuật lại ba phản ứng (cc. 15-20): phản ứng của các mục tử, phản ứng của những người nghe họ kể lại và cuối cùng là phản ứng của Đức Maria. Các mục tử thấy những sự việc như thiên thần đă loan báo và loan truyền lại sứ điệp của thiên thần; khi nghe họ dân chúng ngạc nhiên – như bà con của ông Giacaria (1,63), như cha mẹ của Chúa Giêsu (2,23). Câu 20 c̣n nói rơ hơn về các mục tử: sau khi từ máng cỏ trở về, họ làm nhiệm vụ của các thiên sứ là ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa (xcc. 13-14). Về phần Đức Maria, Người nổi bật v́ thái độ đón nhận (câu 19 trong đó dội lại câu 51 chương 2). Từ sứ thần Gabriel, Người đă biết rằng con ḿnh sẽ là Đấng Mêsia thuộc ḍng tộc Đavít, là Con Thiên Chúa và là Đức Chúa; từ các mục tử đă được sứ thần loan báo, Người biết rằng con ḿnh là Đấng Cứu Tinh. Nhưng một cách cụ thể các tước hiệu này có ư nghĩa ǵ? Nếu Đức Maria suy nghĩ về tất cả những điều đó trong ḷng, chính là v́ Người chưa hiểu hết ư nghĩa như chương 2 câu 50 xác minh.

Câu 20 là chuyển tiếp qua cảnh sau: như đối với người con của ông Giacaria và bà Êlisabét, đặt tên dường như quan trọng hơn nghi thức cắt b́; cả hai trường hợp đều có sự vâng theo lời sứ thần Gabriel. Cảnh đặt tên là đối tượng của một khai triển dài đối với vị tiền hô, nhưng ở đây lại không phải như vậy.


3. Chú giải của Fiches Dominicales

ĐỨC GIÊSU SINH RA Ở BÊLEM

VÀ THIÊN THẦN BÁO TIN CHO CÁC MỤC ĐỒNG

(Lc 2,1-14)

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Bóng tối của một sự ra đời...

Trong phần mở đầu của tác phẩm ḿnh, thánh sử Luca không muốn làm công việc của một sử gia - lẽ tất nhiên không theo nghĩa hiện đại của từ ấy - nhưng như một nhà thần học đặc biệt nhạy cảm với lịch sử cứu độ.

Thánh sử muốn đưa việc Đức Giêsu sinh ra vào lịch sử chung, bằng cách nối kết sự giáng sinh của Người với "sắc lệnh của hoàng đế Augustô ra lệnh kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ." J. Potin suy diễn thêm: "ở Syria việc kiểm tra dân số thường diễn ra 12 năm một lần. Flavius Joseph cho hay, vào năm thứ 6 của kỷ nguyên chúng ta, dưới thời Quirinius có cuộc kiểm tra dân số điều này trong hợp với cuộc kiểm tra dân số Luca đă đề cập đến. Như vậy, năm thứ sáu trước kỷ nguyên chúng ta, rất có thể là năm Đức Giêsu sinh ra" ("Đức Giêsu, lịch sử có thật", Centurion tr. 93).

- V́ muốn nhấn mạnh sự nối tiếp của lịch sử cứu độ và lịch sử ấy hoàn tất với Đức Kitô, nên Luca đề cập đến ḍng dơi Đavid của Đức Giêsu:

Bỏ Nadarét ở Galilê, Giuse đi về Bêlem "thành của Đavid" để khai hộ khẩu, bởi lẽ ông thuộc nhà và ḍng dôi Đaviđ”.

Chính tại Bêlem “ Maria vợ ông đang có thai” sẽ hạ sinh con trẻ. Biến cố được diễn tả cách giản dị lạ thường. Trong chuyến đi về Bêlem, tuy đóng vai tṛ quyết định, nhưng Giuse tự xoá mờ trước Maria. Mẹ mới là người quan trọng: Ngài sinh con đầu ḷng, bọc trong tă và đặt nằm trong máng cỏ " ( cảnh này gợi lên cảnh đặt vào mồ: Lc 23,53 họ lấy khăn liệm bọc Ngài và đặt vào mồ), v́ không có chỗ cho họ trong "pḥng tập thể”: (sau này chúng ta sẽ gặp lại "pḥng tập thể" trong Luca, đó là pḥng tiệc ly: Lc 22,11).

2. Sẽ soi sáng mọi đêm tối".

Trái với sự thanh vắng, bóng tối và sự nghèo nàn của cảnh ra đời, này đây "trong vùng lân cận”, đêm tối rạng ngời và tiếng hát vang dội, nói lên ư nghĩa của biến cố vừa mới hoàn thành: trời và đất gặp nhau, những người đầu tiên được lănh nhận ơn mạc khải là những người hèn mọn nhất của thời đại: các mục đồng, một lớp người trong xă hội bị khinh chê nhất, được xếp với hạng người tội lỗi và bọn thu thuế. H.Cousin giải thích: "ở Palestin, chăn chiên là lớp người mang tiếng xấu, thường được người ta coi là bọn bất lương và trộm cắp. Sách Talmud ở Babylone xếp họ vào hạng người đáng chú ư: dân mục tử, bọn thu thuế, thật khó mà ăn năn trở lại". những người bị khinh chê và được xếp vào bậc thang cuối cùng của xă hội lại là những người đầu tiên được đoái đến bởi Đấng vừa sinh ra, con của một người mẹ "hèn hạ " (Lc 1,48: phận nữ tỳ hèn mọn); chính Ngài sẽ đem Tin Mừng cho người nghèo khó (4, 18). Đấng vừa sinh ra là Đấng để cho người tội lỗi đến với ḿnh và đồng bàn với họ " (15, 2) ("Tin Mừng thánh Luca", Centurion tr. 38-39).

- Sứ điệp mà "các thiên thần của Chúa" mang đến cho họ là một "Tin Mừng" (Evangile), một niềm vui lớn. Tin vui ấy là tin vui cho "Toàn dân”. Sứ điệp ấy liên can tới sự giáng sinh của một hài nhi, nơi Người các tước hiệu: "Đấng cứu độ", "Đấng Mêsia ", "Chúa " đạt được sự viên măn bởi lẽ chính Ngài là sự mạc khải sống động về ḷng nhân từ của Thiên Chúa. "Đấng cứu độ ", "Đấng Mêsia” (Kitô), "Chúa”, ba tước vị phát xuất từ việc Giáo Hội tuyên xưng đức tin phục sinh, mà chúng ta sẽ thấy trên môi miệng của Phêrô (Cv 2,36...) và của Phaolô (Cv 13,33...).

- "dấu chỉ" cho các mục tử vùng Bêlem: một trẻ sơ sinh, “bọc tă nằm trong máng có", để nói ṿi những ai biết đón nhận rằng Thiên Chúa ban ơn cứu độ như người đă hứa theo cách thế không ai ngờ tới. R.Meynet dẫn giải: “Kẻ trước hết sẽ nên sau hết. Con người được coi là Đấng Cứu độ, là Vua, là Đấng Mêsia và được thừa kế ngai vàng Đavid tổ phụ Người, lại nằm trong máng cỏ của súc vật, bọc tă, nằm trong cái nôi tạm bợ, cũng như sau này, Người sẽ được bọc trong khăn liệm và nằm trong ngôi mộ không phải dành cho ḿnh. Dù mâu thuẫn, đó vẫn là dấu chỉ cho các mục tử và cho Kitô hữu của mọi thời. Dấu chứng cho sự cao sang của Thiên Chúa lại là sự nhỏ bé, và cho quyền năng của Người lại là sự hèn yếu ("Tin Mừng theo thánh Gioan: phân tích tu từ học", Cerf, tr. 36).

- Lời tạ ơn “đột nhiên" vang lên. Trên trời, biến cố được diễn tả với chiều kích rộng lớn và trong bầu khí trang trọng. Cùng lúc, dưới đất, là cuộc tổng kiểm tra dân số của Augustô: với thiên sứ, một cơ binh trên trời đông vô số ngợi khen Thiên Chúa rằng: Sáng danh Thiên Chúa trên các tầng trời, b́nh an dưới thế cho người Chúa thương. Cả trời đất đều mừng vui: kỷ nguyên cứu rỗi đă mở đầu Thiên Chúa, Đấng lấy việc ban hồng ân làm vinh quang, sẽ đổ xuống trên dân Ngài sự "b́nh an" mà Ngài đă hứa trong ngày cứu độ: không phải sự đảm bảo vật chất của nền "hoà b́nh Rô-ma" Mà Con người chờ đợi ở Augustô, nhưng là sự tràn đầy sự sống là chỉ ḿnh Ngài có thể ban cho. Trong đêm tối, trở về với cảnh thanh vắng, từ cánh đồng quê Bêlem, mục tử lên đường để xem sự việc đă xảy ra? Họ t́m thấy Maria, Giuse và Hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Sau đó, họ trở về và ca ngợi tạ ơn về những ǵ họ đă thấy và đă nghe, họ là gương mẫu cho các nhà truyền giáo mà thánh Luca sẽ tŕnh bày trong cuốn sách thứ hai: Sách Công Vụ Tông Đồ.

BÀI ĐỌC THÊM

1. Từ Bêlem đến Phục Sinh”

(A.George, trong "Assemblées du Seigneur", số 10, tr. 6f' 67).

"Thánh Luca muốn diễn tả một sự kiện diễn ra tại Bêlem thời César Augustô mà ông đă nghe kể và hiểu theo truyền thống của Giáo Hội. Ông chú ư đến sự kiện này như một biến cố rơ ràng, xảy ra ở một nơi nhất định, nhưng ông tỏ ra không mấy chú ư đến các chi tiết. Điều đáng ông lưu ư trong sự kiện này là ư nghĩa của lịch sở cứu độ. Đó chính là tính hiện tại của ơn cứu độ. Nó diễn ra trong suốt cuộc đời của Đức Giêsu, từ Bêlem đến Phục sinh. Khi ông định nghĩa Đức Giêsu như Đấng cứu chuộc, như Kitô Đức Chúa, ông không muốn nói những ǵ người ta đă hiểu về Đức Giêsu ngày Ngài sinh ra, nhưng Ngài vẫn là như thế cho đến muôn đời. Khi ông kể lại câu chuyện các mục tử, ông nghĩ đến tất cả những ai đă rao truyền sứ điệp thời các tông đồ, nghĩ đến tất cả những ai đă đón nhận sứ điệp ấy. V́ thế ngày nay, câu chuyện đó liên quan đến chúng ta. Đối với ông, mầu nhiệm kết hợp cách bất khả phân ly với lịch sử. Ông tin rằng ơn cứu rỗi đă được ban trong biến cố Đức Giêsu. Và v́ thế ông đă viết cuốn sách này.

Đức tin của ông, cũng như của chúng ta, không chỉ dựa trên câu chuyện ấy. Đức tin ấy phát xuất từ việc biết Đức Giêsu trong tất cả mầu nhiệm của Ngài, trong nhân cách huyền nhiệm được mặc khải dần dà, trong sứ điệp cứu rỗi muôn đời, trong việc Ngài luôn toả sáng. Bởi lẽ sự mặc khải về Đức Giêsu là một sự kiện duy nhất đă xảy ra trong thời Đức Giêsu và kéo dài cho đến chúng ta, thời của Giáo Hội. Mỗi người chúng ta đều được mời gọi đưa ra một chọn lựa trước sự kiện này. Quyết định như thế thật khó khăn v́ nó đ̣i chúng ta phải hoàn toàn dấn thân. Sự quyết định đó cũng không bao giờ hoàn tất, bởi v́ Đức Kitô vượt xa hơn bất kỳ ai khác, nên sự hiểu biết về Người là một khám phá của tất cả cuộc đời.

Câu chuyện giáng sinh ở Bêlem chỉ có ư nghĩa đối với những ai đă nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu độ, là Kitô Đức Chúa. Sự Giáng Sinh làm lộ rơ điều nghịch lư nơi con người giàu: sự nghèo hèn song hành với vinh quang. Điều nghịch lư này làm cho người Do Thái thời Ngài cũng như mọi người chưng hửng: một bên là sự trần trụi của một Hài nhi yếu ớt, từ lúc mới sinh đă phải tùng phục sắc lệnh của một hoàng đế ngoại giáo, và trong cảnh xa nhà, chỉ được một người mẹ tứ cố vô thân, một bác thợ mộc và mấy người chăn chiên tiếp đón... bên kia là sự xuất hiện của cả một đạo binh ngời sáng trên trời, vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện và lời tung hô Đấng Cứu thế, Kitô Đức Chúa. Sự gặp nhau giữa nỗi khốn cùng của loài người và vinh quang của Thiên Chúa chính là sự kiện Thiên Chúa đến trong lịch sử chúng ta: một sựï hiệp thông với cả nhân loại, để dấy lên niềm hy vọng, một sự hiện diện trong t́nh yêu cho đến muôn đời.

Cuộc gặp gỡ này không chỉ diễn ra trong mầu nhiệm của đêm Giáng Sinh mà c̣n kéo dài trong tất cả cuộc đời Đức Giêsu, từ những phép lạ và thử thách của cuộc sống trần gian cho đến vinh quang phục sinh, toàn thắng mà thế gian không biết đến. Suốt ḍng thời gian, sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại chính là Giáo Hội. Giáo Hội này tuy c̣n đầy dấy sự yếu hèn của chúng ta nhưng lại là nguồn mạch ơn cứu độ muôn đời của Thiên Chúa. Trong Giáo Hội, trong chúng ta, cũng như trong đêm Giáng Sinh và Phục sinh, "chính trong sự yếu hèn mà quyền năng được toả lan " ( 2 C r 12, 9 ) .

2. "Đă 2000 năm"

(Mgr. F.Favreau trong "Mùa Vọng năm 2000", Documents " épiscopat, số 14, tháng 10, 1 996).

(Tạm dịch)

Hai ngàn năm đă trôi qua,

Giêsu, Chúa đă sinh ra giữa đời.

Kỷ niệm bất diệt đầy vơi,

Mừng cùng Giáo Hôi khắp nơi, vũ hoàn.

Niềm vui cảm tạ tri ân,

Chúa đă thăm viếng cơi trần chúng con.

Lời xưa Chúa hứa vẫn c̣n:

Ở cùng nhân loại chúng con mỗi ngày.

Chúng con cảm nghiệm giờ đây,

Chúa đang hiện diện mọi ngày đời con

Ban ơn trông cậy trường tồn,

Một niềm phó thác, con luôn vững bền.

Trên vùng Đất Hứa nửa đêm,

Chúa đến mặc khải êm đềm t́nh Cha.

Chúa yêu ta, chết v́ ta.

Chúa ơi! Xin dẫn con và anh em

Vào trong nguồn suối êm đềm

Của t́nh yêu Chúa ở trên cơi đời.

T́nh Cha bí mật tuyệt vời

Chính là ơn gọi con nơi thế trần.

Tibêriat dừng chân,

Tám mối phúc, Chúa ân cần dạy con.

Biến con thành sử giả luôn

Loan truyền mối phúc cho muôn muôn người.

Thánh Thần xin gởi đầy vơi,

Trên Hội Thánh Chúa ở nơi thế trần:

Ngài ban sức mạnh hồng ân

Giúp con lướt thắng tinh thần cứng tin.

Dắt con vững bước đăng tŕnh,

Anh em, đến với mối t́nh tri âm.

Biến con thành thợ Phúc Âm.

 

NGÔI LỜI ĐĂ TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM

VÀ CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TA

(Ga 1,1-18)

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Lời Tựa là một Thánh Thi.

Matthêu mở đầu tin Mừng bằng "Gia phả của Đức Giêsu Kitô, Con vua Đavít, con Aùpraham”. Luca th́ bắt đầu "tŕnh thuật về những biến cố đă diễn ra giữa chúng ta " (1,1) bằng cách tŕnh bày gẫy gọn một ít giai thoại về đời thơ ấu của Đức Giêsu: những giai thoại này vừa giới thiệu vừa tiên báo về cuộc đời Chúa. Máccô (như ta đă đọc ở Chúa nhật thứ II Mùa Vọng) đặt cho tác phẩm của Ông một tựa đề đầy ư nghĩa: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”.

Về phần Gioan, ông bắt đầu Tin Mừng bằng một Lời Tựa dưới dạng Thánh Thi, mà nhiều nhà chú giải nghĩ rằng thánh thi này đă được hát trong cộng đoàn của Gioan, trước khi được đặt vào đầu cuốn Tin Mừng. Cũng giống như khúc mở đầu một bản hoà tấu - hay đúng hơn như đoạn kết, thánh thi này nối kết các đề tài thành một bản tóm tắt đầy sức mạnh.

Alain Marchadour giải thích: "Để mở đầu cho Tin Mừng của ḿnh. Gioan đă chọn một thánh thi. Lời mở đầu này như khúc dạo đầu một bản nhạc, lần lượt kể ra những đề tài lớn của Tin Mừng và nói đến nguồn gốc cũng như nguyên thủy của Đức Giêsu mà Tin Mừng sẽ tường thuật cuộc đời của Ngài khi Ngài sống giữa loài người. Lúc khởi đầu Ngài là Ngôi Lời, thường t́nh thân thiết với Thiên Chúa đến nỗi thi sĩ quả quyết rằng ngôi là Thiên Chúa. Vai tṛ của người vượt khỏi ranh giới dân Israel bởi v́ Người là Đấng tạo thành, là Sự Sống, là Aùnh Sáng cho mọi người sinh ra nơi trần thế. Biến cố nhập thể đánh dấu việc Ngôi Lời xâm nhập lịch sử, cuộc gặp gở định mệnh với loài người và với dân Do Thái, người th́ từ chối, kẻ th́ đón nhận. Những người đón nhận là cộng đoàn Kitô hữu. Thánh thi này long trọng kể ra cuộc hành tŕnh của Ngôi Lời, từ lúc ở với Thiên Chúa (câu 1-2), rồi đến giũa loài người (3-5), chọn dân Israel (9-11) rồi nhập thể (14) cho đến ngày trở lại, "Người là Đấng hằng ở nơi cung ḷng Thiên Chúa”, " ("L Evangile de Jean", Centurion 1 992, trang 31).

2. Ca ngợi cuộc hành tŕnh của Ngôi Lời Thiên Chúa

Chúng ta hăy theo dơi sự triển khai từng phần một.

Nguồn gốc bí nhiệm của Đức Giêsu, Ngôi Lời sáng tạo:

+ Hai từ đầu tiên “Khởi đầu" liên kết việc Đức Giêsu xuống trần với những chương đầu sách Sáng Thế, như thế phải đọc về Đức Giêsu từ giây phút đầu của mạc khải: xuyên suốt Tin Mừng, Người được giới thiệu "như điểm hoàn tất của tất cả mạc khải, như Đấng mạc khải tối cao, như ân huệ tối hậu của Thiên Chúa, như con đường duy nhất dẫn tới ơn cứu độ, và như khuôn mặt của Thiên Chúa giữa loài người" (A.Marchadour, Sđd, trang 34).

+ Trước hết, thánh thi nói đến "Ngôi Lời Thiên Chúa" (danh hiệu của riêng Gioan trong Tân ước) trong hiện hữu vĩnh cửu, t́nh nghĩa thiết muôn đời với Chúa Cha nhưng khác biệt với Cha: và thiên tính của Người: "Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa”.

Sau đó thánh thi công bố tính phổ quát của công cuộc tạo thành do Đấng là Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa: "Nhờ người vạn vật được tạo thành, và không có Người th́ chẳng có ǵ được tạo thành”. Đồng thời, Người trao ban sự sống cho vạn vật, Người đem họ vào cuộc sống.

Ngôi Lời của Thiên Chúa, Aùnh Sáng và Sự Sống loài người.

Ở gần Thiên Chúa và là Thiên Chúa, Ngôi Lời từ nguyên thuỷ đă sống trong tương quan độc nhất với con người: Người

không chỉ là Đấng tạo thành, Người c̣n là “Sự Sống" và “Ánh Sáng”. Người không chỉ là nguồn gốc của mọi sinh vật, nhưng sự hiện diện của Người ở giữa chúng sinh c̣n tạo nên sự hiệp thông với sự sống siêu nhiên. Người cũng là Aùnh Sáng: Không phải là ánh sáng vũ trụ, mà là ánh sáng thần linh và siêu phàm, hướng dẫn con người.

- Chứng tá của Gioan Tẩy Giả.

Trái ngược với vẻ trịnh trọng trong nhưng câu đầu của Lời Tựa, giờ đây Gioan Tẩy Giả bước lên sân khấu: "Có một Người…”

Sự Sáng đến thế gian đă có một nhân chứng đi trước, đó là Gioan, con ông Giacaria. Vẻ cao cả của con người này là ông được Thiên Chúa sai đến, và ông đă đón nhận sứ mệnh làm chứng cho Aùnh Sáng: với tư cách là Tiền hô, ông hướng dẫn người ta đến với đức tin, tin vào Đấng là Aùnh Sáng, là Đấng phải chiếm được tất cả địa vị: "ông không phải là Aùnh Sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng”.

- Aùnh Sáng đă đến trong thế gian.

+ Nhưng khi Aùnh Sáng đến thế gian th́ con người lại từ chối và chống đối. Thế gian mà Ngôi Lời đă tạo thành lại khước từ Aùnh Sáng, thật là trớ trêu! (vấp phạm): Người ở giữa thế gian, và thế gian đă nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người”.

C̣n trớ trêu hơn nữa, là "gia nhân của Người”, dân của Lời hứa, dân của Giao ước, "đă không đón nhận Người”.

+ "C̣n những ai đón nhận Người - dù là dân Israel hay dân ngoại th́ Người cho họ quyền trở nên Con Thiên Chúa?

- Ngôi Lời đă trở nên người phàm.

+ Gioan đă viết "người phàm”, theo đúng chữ là "trở nên xác thịt”; từ "xác thịt" ở đây không có nghĩa đối nghịch với linh hồn, nhưng có ư nói con người dưới chiều kích mỏng gịn, dễ hư nát.

+ "Người cư ngụ giữa chúng ta" ( theo đúng chữ: Người cắm lều của Người giữa chúng ta): độc giả của Gioan đọc cụm từ này liền nghĩ ngay đến "nơi ở" của Thiên Chúa ở giữa dân Người. Sự hiện diện của Đức Chúa ở giữa dân Người, được tượng trưng bằng Lều giao ước trong sa mạc, thời Xuất Hành, rồi bằng Đền thờ Giêrusalem, giờ đây thể hiện cách hoàn hảo nơi Đức Giêsu trở nên người phàm: (Ga 2,19-22: "Chúa nói về Đền thờ thân xác Người").

+ "Chúng tôi được nh́n thấy vinh quang của người" trong con người Giêsu, cộng đoàn của Gioan quả quyết rằng họ được nh́n thấy vinh quang của Thiên Chúa, nghĩa là: một phẩm chất, một vầng hào quang mạc khải Thiên Chúa.

- Đức Giêsu Kitô đă mạc khải Thiên Chúa vô h́nh.

"Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả, nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng vốn hằng ở nơi cung ḷng Chúa Cha, chính Người đă tỏ cho chúng ta biết”.

Jean Perron nhận xét: "Bài Thánh Thi đă khởi đầu từ Ngôi Lời ở nơi cung ḷng Chúa Cha cũng kết thúc bằng tư tưởng "Con Một ở nơi cung ḷng Chúa Cha": đó chính là ḍng chảy cuộc sống của Đức Giêsu, cũng giống như sẽ nhắc lại ở câu kết vào cuối đời Người: "Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa" (Ga 13,3). Nhưng trong "tiến tŕnh đi lên cùng Đấng duy nhất cần nhận biết (không ai đă nh́n thấy Thiên Chúa, ngay cả đến Môsê ), Người muốn đem ta đi cùng: "Để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó" (14,3). Và c̣n hơn thế nữa, trong cuộc sống thân mật mà Người đă dẫn ta vào: "Ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy" (14,23)" ("Lire de Bible", số 52, trang 34-35).

BÀI ĐỌC THÊM.

1. Một câu không có "động từ " th́ không có nghĩa

("Bible du Dimanche" trang 51 1-512).

(Trong tiếng Pháp, "verbe" vừa nghĩa là động từ, vừa là Lời: một cách chơi chữ ở đây.)

"Và Ngôi Lời đă trở nên người phàm”. Một từ ngữ, nhẹ hơn một làn khói, làm sao có thể nắm bắt được?

Thiên Chúa đă không sử dụng thuật pháp của tử ngữ, mà đă nói qua một trẻ thơ được bọc trong tă nơi máng cỏ và c̣n chưa biết nói, đă nói qua một tử tội không c̣n có thể nói được nằm trên thập giá. Người nói trong yếu đuối và thinh lặng. Sự thinh lặng hùng biện từ nay đă chứng minh cho mọi người rằng Thiên Chúa không im lặng. Lời của Người không c̣n là một chuỗi tiếng nói mà đă trở nên người phàm.

Từ khi con người trông đợi Thiên Chúa, họ cảm nghiệm sự xa vắng của Người hơn là được hưởng sự hiện diện của Người: "Không ai đă được thấy Thiên Chúa'? Điều đó không ngăn cản họ nói nhiều về Người, tuy Người vẫn vắng bông và xa lạ. Họ nói mà không cần nhờ đến những bậc hiền triết, Môsê, Lề Luật, và ngay cả đến Gioan Tẩy Giả hoặc các nhà thông thái. Dù dùng rất nhiều từ cũng không thể có sức thuyết phục bằng một lời nói. Bởi vậy trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa không ngừng nói "Lời cuối cùng” của Người.

Chỉ có Lời ("động từ") này mới làm cho câu có ư nghĩa. Nhờ Người mà những chuỗi từ của con người mới t́m được sự mạch lạc Người không loan báo những chân lư phụ thuộc, nhưng chính Người là Chân lư; Người soi sáng những sai lầm nơi chúng ta v́ chỉ có Người là Aùnh Sáng.

Tuy nhiên, chỉ có Aùnh sáng mới khơi dậy bóng tối. Chỉ có chân lư mới làm thương tổn. Bởi vậy, số phận của Lời này là bị chống đối và đôi khi bị khai trừ. Nhưng cũng chính v́ vậy mà Lời Chúa đánh động chúng ta và trờ nên hiển nhiên trước mắt chúng ta".

2. Vài câu Kinh Thánh tóm tắt hoàn hảo cả công tŕnh Thiên Chúa đă thực hiện thể cứu-độ nhân loại.

(L. Sintas trong "Parole de diệu pour la méditation ét l'homélte -Năm C", Médiaspaul. trang 20-2).

Mấy câu Gioan dùng để bắt đầu Tin Mừng là những câu nổi trọng nhất trong truyền thống b́nh dân của tội Thánh. Cách đây không lâu, mọi thánh lễ đều kết thúc bàng bản văn này. Trong, các giáo xứ ở Pháp, khi cha mẹ lo lắng về con cái đến xin linh mục cầu nguyện cho chúng, th́ họ đưa chúng đến nhà thờ, và linh mục thường đọc những câu Tin Mừng này, trong khi đặt dây stola trên đầu chúng. Đó không chỉ do ḷng sùng mộ của một vài người, mà là một thói quen phổ biến trong quần chúng Kitô giáo. Việc chọn những câu Tin Mừng này thật ra rất chính đáng. Bởi v́ những câu này là như bản tóm lược tất cả công tŕnh mà Thiên Chúa đă thực hiện để cứu độ nhân loại.

- Khởi đầu là xác quyết long trọng về bản tính của Đức Giêsu, Lời của Thiên Chúa. Do Lời, Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. Thiên Chúa phán... và sự vật liền có. Nhờ người vạn vật được tạo thành, và không có Người th́ chẳng có ǵ được tạo thành”. Gioan đă cả quyết rằng lúc tạo dựng, dù bóng tối dày đặc, cũng không thể cản được ánh sáng tạo dựng. Aùnh sáng đă xô đẩy và quét sạch bóng tối để ngự trị.

Trái với quyền lực mạnh mẽ lúc ban đầu của Lời Thiên Chúa, bỗng chốc Lời đó trở nên bất lực. "Ngôi Lời là sự sáng thật. Người ở giữa thế gian và thế gian đă nhờ Người mà có, nhưng thế gian lại không nhận biết Người”. Đó là xác quyết về mầu nhiệm Nhập Thể. Lời của Thiên Chúa, Lời tạo thành, đă đến ở giữa phàm nhân. Nhưng bóng tối dày đặc đă ngăn cản ánh sáng nên thế gian không đón nhận ánh sáng. Ngay khi xác định việc Thiên Chúa Nhập thể, th́ cũng cho thấy sức mạnh của tự do con người. Tự do ấy có thể khiến họ khước từ ánh sáng. Tội lỗi là một chướng ngại ngăn cản con người đến với Thiên Chúa, chướng ngại mà chính Thiên Chúa cũng không. thể vượt qua nếu con người không đồng ư.

Con Thiên Chúa "đă đến nơi nhà Người và gia nhân Người không đón nhận Người”. Đó là số phận của Người mới đến giữa nhân loại. Từ khi trốn sang Ai Cập, cho đến cuộc khổ nạn, chết trên thập giá, Người từ Thiên Chúa mới đến này bị anh em đồng loại của ḿnh ruồng bắt, nghi ngờ, tố cáo, xét xử và hành quyết. Đó là công việc của ư muốn con người khi ư muốn ấy bị chi phối bởi đam mê xác thịt, đam mê trần thế và tính khát máu. Chúng ta gọi tên nó là tội. Khi phạm tội, người ta t́m thoả măn ư riêng ḿnh, thay v́ t́m ư Chúa và vinh quang của Người. Như vậy, qui ngă là dấu cho thấy con người có thể gây cho Thiên Chúa những đau khổ tệ hại nhất, nỗi nhục nhằn kinh khủng nhất.

Tuy nhiên, Lời Thiên Chúa sẽ chiến thắng. Chiến thắng không do áp chế con người nhưng nhờ sự hoán cải trong tâm hồn. "Nhưng những ai đón nhận Người, những kẻ tin vào danh Người, th́ Người cho họ quyền trở nên Con Thiên Chúa”.

Một bức hoạ diễn tả thảm kịch của nhân loại đă được vẽ lên. Nó họa lai sự cao cả của Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo và ơn cứu độ danh cho những người thiện tâm. Là nạn nhân của tính tự măn, loài người không thể nào nhận biết Con Thiên Chúa nên đă đóng đinh Người trên thập giá. Chính thập giá lại trở nên cửa mở vào sự sống lại cho những ai chấp nhận đóng đinh tính tự măn của ḿnh trong cuộc sống hằng ngày, bằng tự nguyện từ bỏ v́ đức tin. Lúc đó ánh sáng sẽ phủ ngợp con người họ".

3. Tổng hợp sống động giữa hai quy tŕnh xem là trái ngược ("Célébrer" số 264, trang 41-42).

Có thể coi phần thứ nhất (1-14) là lịch sử của Ngôi Lời; người ta dùng ngôi thứ ba để nói về Ngài: “Người”, “trong Người”, "nhờ người". Qua việc dùng các động từ khác nhau, người ta lần lượt kể ra mối tương quan của Ngôi Lời với Thiên Chúa, vai tṛ của Người trong công cuộc tạo dựng, hoạt động của Người ở trần gian, và việc Người đến trong lịch sử nhân loại.

Cách tŕnh bày này có lẽ do thánh thi ở sách Châm Ngôn đoạn 8 và sách Ben Sira đoạn 24 gợi ư. Ở hai sách này, Khôn Ngoan tự thuật về đời ḿnh: được Thiên Chúa tạo dựng, Khôn Ngoan gợi ư cho Thiên Chúa trong việc tạo dựng, Khôn Ngoan đi lại với con người, chất vấn con người và sau vậy sự Khôn ngoan được nhân cách hoá này là ǵ? Có lẽ phải hiểu là kế hoạch mà Thiên Chúa có ở trong trí khi tạo dựng vũ trụ. Ngay từ đầu, Người biết rằng một ngày kia Người sẽ mạc khải ḿnh trọn vẹn để đem hạnh phúc đến cho loài người. Kế hoạch này đă có sẵn trong mọi công tŕnh của Người, mọi sự đều nói lên ư nghĩa do Người đặt định; mọi tạo vật nói về Người, ai cũng có thể nhận biết Người và giao tiếp với Thiên Chúa...

- Đọc phần thứ hai của Lời Tựa, ta cảm thấy ḿnh ở trong một bối cảnh hoàn toàn khác: ba lần dùng danh xưng "chúng tôi" để chỉ cộng đoàn các môn đệ, ba câu vang lên như tiếng reo mừng, biểu lộ một cảm nghiệm ưu tuyển, mà ta cũng thấy ở thời Gioan, chương 1: "Điều vẫn có ngay từ lúc thời đầu, điều mà chúng tôi đă nghe...? Lần này không c̣n nói về điều ở trên trời, nhưng nói về cuộc gặp gỡ lịch sử, cự thể với Đức Giêsu Nagiarét, một cảm nghiệm không thể quên, được kêu lên trong niềm kinh ngạc và xúc động: phải, chúng tôi đă nh́n thấy vinh quang của Chúa Cha, phải, chúng tôi đă nh́n thấy sự sống chiến thắng sự chết, phải chúng tôi đă nh́n thấy bóng tối không ngăn cản được ánh sáng. Từ cuộc gặp gỡ lịch sử này, chúng ta đi ngược lên tới tận nguồn gốc của Ngôi Lời. Như vậy Lời Tựa đă tổng hợp hai quy tŕnh xem ra trái ngược nhau một cách sống động: giải thích tổng quát lịch sử và cảm nghiệm độc nhất vào một thời điểm nhất định. Bởi vậy, Ngôi Lời đă trở nên người phàm, có nghĩa cụ thể là: ư định mà Thiên Chúa có khi tạo thành vũ trụ đă được tỏ lộ qua sự kiện Nhập Thể - đó là dấu chỉ mà Người nhắn gởi đến nhân loại qua mọi thành phần trong vũ trụ, qua sự gắn bó chặt chẽ của mọi vật trong trời đất, qua Giao ước tạo lập nên một dân tộc tất cả những điều đó giờ đây đă h́nh thành và mang khuôn mặt của Đức Giêsu Nagiarét, Lời duy nhất của Chúa Cha, và từ nay mọi người hoàn thành số phận của ḿnh bằng cách trở nên giống Chúa Con".


4. Chú giải của Noel Quesson

Lc 2, 1-14

Noel là một cuốn sách đẹp chứa đầy h́nh ảnh dân gian. Chúng ta hăy ghi giữ h́nh ảnh đó, lúc nào cũng tươi xinh trước mắt chúng ta. Nhưng rơ ràng là Luca mời gọi ta hưởng tới một “chiêm niệm" nội tâm hơn: Tŕnh thuật của ông là một “nhập đề" thần học dẫn vào Tin Mừng của ông, một Tin Mùng chỉ có thể nắm bắt trọn vẹn nhờ Đức tin.

Thời ấy, hoàng đế Xêda Augustô ra chiếu chỉ truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.

Xêda Augustô là hoàng đế nổi tiếng nhất của Rôma (từ năm 30 trước Chúa Giêsu Kitô đến năm 14 sau CGK) . Vào năm 27, ông đă để cho Nghị viện phong cho ḿnh tước hiệu: Thần Auguttô, tiếng Hỳ Lạp là "Sebastos", có nghĩa “xứng đáng được tôn thờ". Khi sử dụng tước hiệu diệu kỳ của một ông "vua trần gian" như trên, Luca muốn minh chứng cách tương phản rằng, Thiên Chúa xử sự khác biết bao: Người sẽ hạ sinh như một trẻ thơ gịn mỏng, thuộc lớp ngườøi di cư đáng thương.

Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên được thực hiện hồi ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria.

Nếu bức tranh của lễ Noel đầu tiên này khá mờ tối.

Xứ sở th́ bị xâm chiếm. Dân cư th́ lệ thuộc dưới ách thống trị của một quyền lực ngoại bang. Nhờ lịch sử ngoại giáo, ta biết rằng, cuộc kiểm tra của Quiriniô này, đă khiến dân nổi dậy, vào năm 6, trong thời kỳ cai trị thứ hai, do việc kiểm tra tài sản ruộng đất và công tŕnh xây cất của dân chúng... để đánh thuế? ít năm sau, Đức Giêsu cũng phải đương đầu với viên tổng trấn khác, Phongxiô Philatô.

Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse từ thành Nagiarét, miền Galilê, lên miền Giuđê".

Giuse để cho các biến cố hướng dẫn ḿnh. Thế giới mà Đức Giêsu bước vào là một thế giới khó khăn, đầy những g̣ bó (Noel không đẹp chút nào). Nhưng "Thiên Chúa thường viết thẳng trên những đường cong của chúng ta" . Và những biến cố là "những ông thầy mà Thiên Chúa tự tay trao cho chúng ta" (Pascal). Tôi có xác tín rằng, Thiên Chúa vẫn có đó, đang hạch hỏi tôi, trong tất cả những ǵ đang diễn tiến, trong tất cả những ǵ đang xảy đến với tôi không? ông lên đường cùng với một người nữ đang mang thai.

Lên thành của Đavít, gọi là Bêlem, v́ ông cũng thuộc gia tộc của Đavít.

Luca "giải thích" biến cố dưới ánh sáng của lời sấm Mikha (5,1-4) Đấng sẽ sinh ra là "cứu Chúa” mà "một thiếu nữ Sion phải hạ sinh”, "trong một làng bé nhỏ nhất miền Giuđê", giữa những người nghèo khổ, thuộc "số nhỏ c̣n lại"... trong "thành của Đavít". Nhưng thực tế, vị cứu Chúa này lại hoàn toàn khác với những điều người ta mong đợi Người ta mong chờ Người phải là Đấng quyền năng, giàu sang, mạnh mẽ! Thế mà Người lại đến trong tư thế bất lực, nghèo khó, yếu di... Thiên Chúa nhận thấy, những người đạo đức lầm lẫn về Người khiến Người đă phải bước vào trong thế giới "kín mật", một cách bất hợp pháp. Người đă vượt lậu qua ranh giới chúng ta. Không khi nào "những nhà hữu trách" chịu chấp nhận Người, nếu Người nói rơ danh tánh ḿnh? Người ta không thể có ư tưởng về một Thiên Chúa lại chịu xuất hiện qua vẻ bề ngoài tầm thường như thế, không màng đến những đặc quyền của ḿnh, chịu hoàn toàn thiếu thốn những ǵ xứng hợp với Thiên Chúa, xem ra coi thường những nghi lễ uy nghi mà tôn giáo thiết lập để tôn vinh ḿnh!

Nếu tất cả những điều đó không đáng kể với Thiên Chúa, vậy th́ cái ǵ đáng kể đối với Người.

Ông lên đó khai tên cùng với vợ ḿnh là bà Maria, lúc ấy đang có thai.

Bản văn Hy Lạp viết: "Với hôn thê của ḿnh là Maria, lúc ấy đang có thai". Ở đây Luca muốn sử dụng cùng một từ như lúc diễn tả cảnh Truyền tin (Lc 1,27). Dù đă hứa hẹn với nhau cách chính thức nhưng Giuse và Maria không sống chung đụng với nhau Maria vẫn là "trinh nữ” Vậy mà, cô lại "có thai"! Tại sao ta lại cứ giấu Thiên Chúa đến giới nức của ḿnh thôi? Ta đă lầm lẫn về Thiên Chúa, v́ tưởng rằng Thiên Chúa cũng chỉ có khả năng như chúng ta. Lạy Chúa, với đức tin, con muốn tôn thờ quyền năng sáng tạo của Chúa, qua tư cách làm mẹ phi thường trên, làm mẹ mà vẫn c̣n trinh khiết chỉ ḿnh Thiên Chúa là "Cha" của em bé thơ mà Maria, vị hôn thê đang mang thai.

Khi hai người ở đó, th́ bà Maria đă đến ngày măn nguyện khai hoa. Bà sinh con trai đầu ḷng.

Tŕnh thuật trên tŕnh bày thật là quá giản dị! Khác hẳn với những ǵ đă mô tả trong các truyện thần thoại và cổ tích. Đó là một bé thơ như bất cư một bé thơ nào khác, không chút hào quang lượn quanh đầu, hoàn toàn đơn sơ và trần trụi!

Thiên Chúa phán: Ta đă tạo thành các ngươi theo “h́nh ảnh Ta" các người là những người cha, người mẹ, các người biết yêu con cái ḿnh cách diệu kỳ, chăm sóc nâng niu chúng, 'đỡ nâng chiếc đầu bé bỏng mong manh của chúng, cẩn thận kiểm tra nhiệt độ của bầu sữa, ŕnh xem từng nụ cười... Vậy các ngươi không nhận ra Ta cũng giống các ngươi sao? Nhờ những cử chỉ mẫu tử của riêng ḿnh, các bà mẹ một phần nào cũng nhận ra Ta là ai...

Bà lấy tă bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, v́ hai ông bà không t́m được chỗ trong quán trọ.

Bị tràn ngập bơi những lượng thông tin ly kỳ xa lạ cảm kích mà phương tiện thông tin đại chúng đổ trên chúng ta, liệu chúng ta c̣n đủ khả năng để "nhận ra" cái tầm thường Thiên Chúa đă chọn lựa để hiện diện không? Biến cố vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại vừa mới xảy ra " Từ giờ trở đi", Thiên Chúa cũng là một con người, Đức Giêsu? Từ giây phút đó, Thiên Chúa đă liên kết số phận đời Người với số phận chúng ta . Duyên cớ đời ta đă trở nên duyên cớ của Người. Thiên Chúa ở "củng chúng ta". Chúng ta được phép hy vọng tất cả. Những biến cố này không gây cảm giác bề ngoài. Thiên Chúa nằm "trong máng cỏ", hiện diện trong một "hang" ḅ lừa, dụng cụ giúp cho đoàn vật ăn uống. Thiên Chúa đó thật là dễ gây ngỡ ngàng! Thiên Chúa đó thật là dễ gây cảm kích! Khi đứng trước thái độ tự phụ của Auguttô? Ta c̣n phải thêm rằng, Thiên Chúa không làm bộ tỏ ra yếu đuối. Trên lớp rạ rơm nới hang đá, cũng như trên khúc gỗ của thập giá, Người đă mạc khải cho ta những ǵ là thâm sâu nhất, đích thực nhất trong Người, trong Thiên Chúa. Ai thấy tôi là thấy Cha". (Ga 149). Thiên Chúa là t́nh yêu. Và t́nh yêu trở nên yếu ớt trước kẻ mà Người yêu mến. Ai thống trị, th́ không yêu thương!

Trong vùng ấy, có những người chăn chiên thức đêm ngoài trời canh giữ đàn vật.

Không phải là biểu tượng cho nét đẹp thôn dă và thiên nhiên, như thường con vật, vẽ nặn trong dịp Noel muốn làm cho ta tưởng như thế, thực sự những "người chăn chiên", trong quan niệm thời đó, là biểu tượng cho những người bị khinh bỉ. Nghề nghiệp của họ khiến thiên hạ dễ coi thường. Họ được kể như loại người sống "ngoài luật pháp”. Người ta coi họ như những tên cướp giật, sống bằng những của cướp bóc. Họ không được quyền dân sự để làm chứng theo lẽ công bằng. Được kể như những người ngu dốt, họ không có giờ để tham dự những buổi giáo lư mà các nhân trí thức thường truyền đạt trong các hội đường. Được xếp vào loại người ô nhơ, nên nghề nghiệp của họ cản trở họ tôn trọng việc nghỉ ngơi ngày Sa-bát thánh thiện! Và rồi là người không sạch, họ cảm thấy ḿnh không hay ho ǵ, chỉ là hạng "quê mùa"!

Thế mà, họ lại là những người được Thiên Chúa tuyển chọn đầu tiên! Thiên Chúa yêu thương những kẻ "bé mọn", những người "nghèo khổ" những loại người mà kẻ khác thường khinh bỉ. Đó sẽ là một trong những đề tài của Tin Mừng Luca, Xin tạ ơn Chúa!

Bỗng sứ thần Chúa hiện ra đứng bên họ, và vinh quang của Chúa bao trùm chung quanh.

Vẻ “huyền diệu” chỉ khởi sự từ đây trong tŕnh thuật này. Nhà thần học có thể cảnh giác. Hăy ư tứ! Coi chừng! Kiểu nói này là một diễn tả thôi, bởi v́ các cộng đồng đă xác định thiên thần không có thân xác. C̣n nhà thi sĩ và những người b́nh dân lại nói: các sứ thần đó giúp ta biết ngỡ ngàng trước cảnh thần thiêng, những ǵ vượt quá con người ḿnh .

Nhưng ư nghĩa của sự kiện gợi lên khá rơ: cho đến lúc này, trong toàn bộ Kinh thánh. "Vinh quang" là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, chỉ dành riêng nơi Đền thờ Giêrusalem. Nhưng từ nay trở đi, Vinh quang này bao trùm những người nghèo. "Những ǵ anh em làm cho kẻ bé mọn nhất, tức là anh em đang làm cho Thầy” (Mt 25).

Một Thiên Chúa hành xử như thế, thật là ngạc nhiên! thật là cảm kích! Xin tạ ơn Chúa.

Họ kinh khiếp hăi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân”.

Chúng ta vẫn thương nói, ta chưa bao giờ nghe được tiếng nói của Thiên Thần. Họ không hề gây tiếng động. “Tiếng nói" của họ là im lặng. Hăy lắng nghe! Hăy để ư lắng nghe! Nhất là đừng có ồn ào. Mọi "Truyền đạt" của Thiên Chúa đều là "Tin Mừng tin vui". Đây c̣n là một đề tài của Luca nữa. Và tin vui này mang một tầm cỡ "phổ quát” cho tất cả mọi người. Đó là một đề tài khác của Luca.

Hôm nay, Đấng cứu độ anh em đă ra đời trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa.

Các sứ thần không nhiều lời. Lời "truyền đạt" của họ rất ngắn gọn. Lời thông báo đó đi ngay vào điểm cốt yếu. Họ công bố "giấy chứng minh" đích thực của hài nhi chưa ai biết tiếng, với ba tước hiệu của Thiên Chúa: 1. Đấng Cứu độ: sotér 2. Đấng Kitô: Christos 3. Cứu Chúa? Kurios.

Luca sẽ không khi nào sử dụng những tước hiệu đó nữa trong Tin Mừng của ông, trước khi kết thúc cuốn sách. Thiên Chúa phán, hăy để ư, Giêsu bé nhỏ này, hôm nay không quan trọng ǵ, nhưng chính Người sẽ là Đức Chúa vinh quang phục sinh. Những đoạn Tin Mừng thời thơ ấu đều được Luca diễn tả như một mở đầu dẫn vào cuốn sách này, mà ta chỉ thực sự hiểu dược vào lúc kết thúc. Hài nhi vừa sinh hạ có một bản tính Thiên Chúa (Người là Đức Chúa) và mang một sứ vụ thần thiêng (Người là Đấng cứu độ) Tính cách "Cứu Chúa" này chưa tỏ hiện. Hăy chờ xem!

Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: "Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tă, nằm trong máng cỏ".

Điều mà sứ thần báo hiệu như dấu chỉ để nhận ra Đấng Cứu độ: đó là sự "nghèo khó" và "yếu đuối"! Hăy ngừng chạy, hăy đến trước máng cỏ. Biết đâu bạn lại không khám phá ra ở đó một biểu tượng bí ẩn nào? Dù sao Thiên Chúa đang hiến ḿnh tại đó cách thực sự để làm của "ăn”! Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, v́ điều Cha đă giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết, mà Cha lại mạc khải cho những người bé mọn" (Lc 10,21) . Bánh của Thiên Chúa làm no đủ những tâm hồn người nghèo.

Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, B́nh an dưới thế cho loài người Chúa thương".

Đây là lời tung hô thực hiện trước những lời ca tụng dịp rước lá (Lc 19,38).