Các bài suy niệm LỄ GIÁNG SINH –
Năm B
Lời Chúa:
Lễ Đêm: Is 9,
2-4. 6-7; Tt 2, 11-14; Lc 2, 1-14
Lễ Rạng
Đông: Is 62, 11-12; Tt 3, 4-7; Lc 2, 15-20
Lễ Ban Ngày: Is
52,7-10; Dt 1,1-6; Ga 1,1-18 hay Ga 1,1-5.9-14
Có
một người đi hành hương đất thánh,
khi trở về, ông ta đă mua một bộ tượng
sinh nhật gồm Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse.
Thế nhưng, trước khi lên máy bay tại phi
trường Tel Aviv, người ta đă kiểm soát
từng bức tượng một, bằng quang tuyến
X. Nhân viên hải quan đă xin lỗi và nói:
-
Chúng tôi có nhiệm vụ bảo đảm rằng không
hề có chất nổ trong những bức tượng
này.
Lúc
bấy giờ, ông khách hành hương đă thầm
nghĩ:
-
Phải chăng họ biết được rằng
bộ tượng này c̣n chất chứa một năng
lượng khả dĩ làm nổ tung cả thế
giới. Vậy th́ nguồn năng lượng ấy là
như thế nào? Đó không phải là nguồn năng
lượng vô biên của Thiên Chúa, Đấng đă tạo
dựng nên vũ trụ vật chất này trong thoáng
chốc và có thể hủy diệt nó bằng một cái
búng tay. Năng lượng mà ông khách hành hương
muốn nói tới, chính là năng lượng của T́nh
yêu mà Ngài đem theo khi đến với nhân loại trong đêm
Sinh Nhật đầu tiên tại Bêlem.
Thực
vậy, năng lượng ấy được gồm
tóm trong Tin Mừng Giáng Sinh, trong sứ điệp mà Ngài
muốn nhắn gửi chúng ta. Tin Mừng ấy, sứ
điệp ấy như thế này:
-
Thiên Chúa, mặc dầu là Đấng quyền năng vô
song, nhưng đồng thời Ngài cũng là một
người Cha đầy ḷng nhân từ và khoan dung, Ngài
đă yêu thương và chăm sóc đến mỗi
người chúng ta… Và để giải thoát chúng ta khỏi
sự ḱm kẹp của tội lỗi, khỏi án phạt
đời đời, Ngài đă sai chính Con Một Ngài
xuống thế để ở cùng chúng ta và cứu
độ chúng ta.
Tuy
nhiên, để loan báo Tin Mừng ấy, để công
bố sứ điệp ấy, Ngài đă không đến
như một ông hoàng với cung điện lộng
lẫy, với binh đội hùng mạnh, nhưng Ngài
đă đến như một hài nhi bé bỏng và yếu
đuối, con của một gia đ́nh nghèo nàn và túng
thiếu. Ngài đă trở nên một người giống như
chúng ta, cũng bơ vơ lạc lơng, cũng vất
vả mệt mỏi, cũng biết đau, biết
đói, biết khát… Cũng đă bị nhạo cười
và hất hủi, thậm chí c̣n phải chịu một cái chết
ê chề và nhục nhă nhất.
Khi
đến, Ngài đă không được các vua chúa, các
vị lănh đạo thế giới chào đón, mà chỉ
được các mục đồng, những kẻ
thuộc giai cấp thấp hèn nhất đến viếng
thăm. Ngài đă đồng hóa ḿnh với những
người nghèo khổ và túng thiếu, thậm chí ngay
cả với những kẻ tội lỗi.
Những
điều trên đây khiến chúng ta nghĩ tới
quyền năng mà Ngài đem vào thế giới này. Bởi
v́ tư tưởng và đường nẻo của Ngài
không giống với tư tưởng và đường
nẻo của chúng ta. Phải chăng đó chính là
điểm đặc sắc, điểm thách đố
mà mầu nhiệm Giáng Sinh đă gây nên. Sự thách
đố này được diễn tả qua một bài
thơ có nội dung như thế này:
-
Khi ánh sao trên trời chợt tắt, khi các mục
đồng và ba nhà đạo sĩ đă ra về, th́ công
cuộc Giáng Sinh mới thực sự bắt đầu:
để t́m lại những ǵ đă mất, để hàn
gắn những ǵ đă rạn vỡ, để dựng
lại những ǵ đă găy đổ. Người đói được
ăn, kẻ khát được uống, tù nhân
được giải phóng và ḥa b́nh thực sự trở
về với mọi người.
Kể
từ đêm Giáng Sinh đầu tiên cho tới ngày hôm nay, trải
dài hơn hai ngàn năm, sức mạnh t́nh yêu của Thiên Chúa
được biểu lộ nơi hài nhi Giêsu, không
ngừng làm nổ tung và biến đổi bộ mặt
thế giới. Sức mạnh ấy đă san bằng mọi
giai cấp. Sức mạnh ấy đă phá đổ
mọi bất công. Sức mạnh ấy đă giành lại
những quyền lợi cho đàn bà và trẻ em. Sức
mạnh ấy đă hủy diệt mọi thù oán…Tuy nhiên điều
quan trọng hơn cả, đó là sức mạnh t́nh yêu
của mầu nhiệm Giáng Sinh đă tác động như
thế nào đến bản thân và đến cuộc
sống riên tư của mỗi người chúng ta?
NGÀY CHÚA GIÁNG SINH (2,
1-20)
Việc
truyền tin Chúa Giêsu nhập thể đă là lạ lùng v́
tính cách trái ngược giữa vẻ khiêm hạ bên ngoài
với sự cao cả bên trong. Tính cách trái ngược này
lại c̣n lạ lùng và nổi bật hơn nơi việc
Người sinh ra.
1) Chúa
Giáng Sinh.
Việc
Giáng Sinh không xảy ra tại Nagiarét như thường t́nh,
nhưng là tại Bêlem, và không phải do một lời nói
chính thức của thiên thần mà bằng mmột biến
cố hoàn toàn trần thế, nghĩa là do sắc chỉ
của Hoàng Đế Rôma. Như vậy Chúa Giêsu ngay từ
ngày mở mắt chào đời đă tỏ ra phục luỵ
quyền hành thế trần, như một kẻ yếu
thế phải chịu khuất phục kẻ mạnh
hơn. Tuy nhiên, đó là công việc của Thiên Chúa, v́
người ta sẽ thấy rằng ở đây hành
động của con người không ai ngờ lại
phục vụ cho kế hoạch của Thiên Chúa. Hoàng
đế Augustô ra lệnh kiểm tra nhân số trong
đế quốc lớn lao của ông để gom
thế giới lại thành một, biết rơ quân số,
bảo đảm được sự thu thuế mà ông
cần dùng tới với những chương tŕnh vĩ
đại của ông. nhưng thực tế, quyền
năng thế tục đó bên ngoài h́nh như ḱm kẹp Chúa
Giêsu, th́ chỉ là dụng cụ của quyền năng
Thiên Chúa và qua đó, chương tŕnh Cứu độ
được hoàn thành.
Như
vậy Chúa Giêsu đă giáng sinh tại Bêlem trong thành cảu
Đavít, như Tin Mừng đă nhấn mạnh
điều đó. Chính nơi đây, Đavít khi c̣n là
mục đồng, được gọi về hiến Thánh,
th́ giờ đây, cũng chính ở đây, người con
đích thực của Đavít lại sinh ra, Đấng
chăn chiên thực sẽ chăn dẫn bầy chiên Thiên
Chúa, Ngài là Đấng được ưu tuyển ngay trong
bản chất thâm sâu của Ngài và như Đấng
Messia, Đấng Thiên tử, Đấng được
xức dầu.
Sắc
lệnh của Hoàng đế Augustô c̣n kéo theo một hậu
quả khác, đó là việc giáng sinh của Chúa Giêsu
được tác thành và lồng vào lịch sử thế
giới. Người ta xác định được nơi
chốn và thời kỳ xảy ra việc đó. Đây là
một biến cố lịch sử đích thực
(chứ không phải là chuyện hoang đường hay thần
thoại) có chỗ đứng trong không gian và thời gian. Bên
cạnh Hoàng đế Augustô, muốn mang lại cho thế
giới cơm no áo ấm, với thứ ‘hoà b́nh của
Rôma’, th́ Chúa Giêsu đúng là vị Cứu tinh thực sự
của vũ hoàn v́ đă mang đến ‘b́nh an của Thiên
Chúa’.
Tuy
thế, ở Bêlem, không c̣n chỗ cho Ngài, nên phải sinh
trong chuồng ḅ lưà. Khi nói Chuá không có chỗ trong quán
trọ, điều đó có thể hiểu là, thực
sự th́ những người lang thang, không c̣n chỗ
ở trong quán đó. Nhưng cũng có ư nói, và đúng
hơn, quán trọ là nơi những người khách
lạ tạm trú, th́ không phải là nơi xứng hợp
đối với mầu nhiệm Thánh Chúa sinh ra. Vậy
Chúa sẽ đến thế trần, không mái nhà, trong
cảnh đơn côi và nghèo nàn của chuồng ḅ lừa. Nôi
của Ngài là cái máng khô, đục vào ngay trong tảng
đá để cho ḅ lừa ăn. Tin Mừng đặc
biệt nhấn mạnh tới việc Hài nhi
được bọc trong khăn. Cho thấy rằng bên
cạnh cảnh nghèo hèn c̣n có nhân tính hoàn toàn, cùng với
tất cả sự yếu đuối của tính con
người.
Con
đầu ḷng của Thiên Chúa, hay nói cho gọn là Con Một
Thiên Chúa đă đến thế gian này như là một
trẻ nhỏ. Khung cảnh thật đơn giản,
thanh bạch, nghèo hèn. Sự đơn giản và nghèo hèn này
ai sánh được; tuy vậy, lại chẳng có biến
cố nào đáng kể hơn, và tất cả mọi phú
túc sẽ được trao cho Đấng vừa sinh ra.
Trước nhan Chúa, đâu cần vẻ hào nhoáng bên ngoài
với tất cả những ǵ liên hệ tới nó. Mà
phải trái lại, cái vẻ bên ngoài càng lui đi th́
mới càng thấy rơ vẻ lớn lao bên trong. Tất
cả những ǵ phồn vinh, giả tạo, khoa
trương, chỉ có bên ngoài thôi th́ đi ngược lại
bản tính của Chúa Giêsu ngay từ giờ đầu tiên
của ngày Giáng Sinh của Ngài cho tới lúc cuối cùng
với cái chế nghéo hèn và trần trụi trên cây thập
tự.
2) Loan
báo tin Chúa Giáng Sinh.
Các
mục đồng là những người đầu tiên
nhận được sứ điệp.
Nội
dung của sứ điệp là một lời loan tin vui tóm
trong ba danh hiệu: Đấng Cứu Thế, Đấng
xức dầu và là Chúa. Ngài là Đấng Cứu thế, v́
Ngài đến giải phóng những người không
thể tự giúp ḿnh khỏi cảnh đau thương.
Ngài là Đấng xức dầu v́ bản tính nhân loại
của Ngài đă được thánh hiến bằng
dầu Thánh của Thiên Chúa: Ngài trở thành Tư tế,
tiên tri và Vua cả. Và Ngài là Chúa v́ mọi quyền năng trên
trời dưới đất đă được ban cho
Ngài.
Thật
là một dấu chỉ lạ lùng: ‘Các ngươi sẽ
thấy một Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ’.
Điều nhỏ bé sẽ biểu thị vẻ lớn lao,
yếu hèn –vẻ quyền năng và nghèo khổ– cảnh
giàu sang. Việc Chúa Giêsu sinh ra làm đảo lộn
những cái chúng ta đă biết cho tới khi đó, và làm
biến đổi các thực tại thần thiêng nhờ
các phạm trù khác và ứng dụng chúng vào các quy luật
khác.
Sứ
điệp kết thúc bằng ca khúc của các Thiên
thần gồm hai phần, mà mỗi phần gồm ba
yếu tố song song với nhau. Ở phần thứ
nhất ta thấy có ‘trời, vinh danh và Thiên Chúa’. Phần
hai có ‘thế trần, hoà b́nh và con người’.
Thiên
Chúa ở trên trời sẽ đón nhận danh dự và vinh
quang, v́ vinh quang của Ngài vẫn dấu kín, sẽ bộc
lộ nhờ Con Ngài. C̣n chính Chúa Giêsu, mà mọi tác
động của Ngài đều mang dấu vô biên sẽ
có thể thực sự tôn vinh Thiên Chúa mà không một
tạo vật nào có thể làm được. Bây giờ
ở dưới thế, b́nh an sẽ ngự trị v́
trời và đất giao hoà trong ơn thánh. Và tất
cả những điều ấy có được là do ḷng
từ ái của Thiên Chúa ban cho nhân loại nhờ Thiên Chúa
Nhập Thể.
Như
vậy bài ca của các Thiên Thần là điệp ca trang trọng
của Thánh vịnh về đời sống Chúa Giêsu, bài
ca mang nặng ư nghĩa của một biến cố vĩ
đại đang được thực hiện trên sân
khấu cuộc đời này. Hơn cả một lời
cầu chúc hay lời nguyện xin. ‘Chúc tụng Thiên Chúa’
đó là một lời loan báo và cũng là một lời
tuyên ngôn vệ một sự kiện: vinh danh dâng lên Thiên
Chúa và an b́nh ban xuống nhân loại. Giờ cứu
độ đă điểm, công việc cứu rỗi
đă bắt đầu v́ Chúa hoàn vũ đă sinh ra.
Và
đây là kết quả đầu tiên, các mục
đồng quyết định đón nhận lời loan
báo trong niềm tin và đi theo lời đó. Sau khi t́m
kiếm, họ đă thấy Đức Maria, Thánh Giuse, và Hài
nhi. Sự kiếm t́m đă không bơ công; họ đă ngạc
nhiên, đầy thán phục.
Qua
sự im lặng, người Mẹ trẻ đă cho
thấy sự hân hoan được diễn tả trong bài
Thánh ca ngợi khen của Mẹ nay nhường chỗ cho
một sự suy niệm đầy an b́nh, và việc các mục
đồng trở về với đời sống
thường nhật quen thuộc giúp chúng ta nhận ra
được là việc khám phá ra Chúa không có nghĩa là
phải có sự thay đổi hoàn cảnh bên ngoài, nhưng
là sự biến đổi sâu xa trong ḷng.
V́
thế, trong cảnh trí này, nổi bật một sự mâu
thuẫn:
Chúa
Giêsu bị che dấu nay lại tỏ hiện, bị
hạ xuống, nhưng rồi được tôn vinh; trao
cho hai tạo vật yếu đuối săn sóc, nhưng
được các thiên thần canh giữ; yếu hèn
thực đó, nhưng lại là vị cứu tinh nhân
loại. Hoàn toàn là người trong mọi sự, nhưng
rạng ngời ánh quang của Thiên Chúa.
Tŕnh
thuật Kinh thánh nhấn mạnh trên sự mâu thuẫn này
là giới thần thiêng đă đi sâu vào sự thấp hèn
của nhân loại, nhưng qua đó lại chiếu
ngời lên để tôn vinh Thiên Chúa.
ĐÊM ÁNH SÁNG
Đêm
Giáng Sinh ch́m trong lớp lớp bóng tối dày đặc.
Bóng
tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm
đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô
lệ khi đất nước ch́m trong ách thống
trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của
những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối
âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê
của tội lỗi nhơ nhớp.
Giữa
màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một
làn ánh sáng rực rỡ.
Đó là ánh sáng t́nh
yêu.
T́nh
yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng
vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh t́nh yêu
của Thiên chúa dành cho nhân loại. T́nh yêu đă đi
đến tận cùng v́ đă trao ban cho nhân loại món quà
cao quí nhất không ǵ có thể so sánh được. Trao ban
Đức Giêsu là cho tất cả, không c̣n có thể cho thêm
ǵ nữa. Đức Giêsu là hiện thân của t́nh yêu Thiên
chúa đi t́m con người. Thiên chúa đă hạ ḿnh thẳm
sâu để xuống gặp con người. Thiên chúa
đă t́m thấy con người trong những khốn cùng
tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên chúa quá
yêu thương đến độ kết hợp với
sự khốn cùng của nhân loại. Thiên chúa đă
cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân
loại nhận được ánh sáng của Thiên chúa. Bóng
đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương.
Anh sáng Thiên chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh
sáng Thiên chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh
lẽo.
Đó là ánh sáng
niềm tin.
Anh
sáng Giáng Sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện
chí. Đêm nhân gian vẫn c̣n mê đắm. Nhưng vẫn có
những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là
những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những
cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng
tối. Đó là những người nghèo của Thiên chúa.
Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các
mục đồng. Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón
nhận thánh ư Thiên chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén
đón nhận những dấu chỉ Thiên chúa gửi
đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên
đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn
sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hê rô đê và
Giêrusalem ch́m trong mê đắm nên ngôi sao đă tắt. Trái lại
"vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục
đồng". Và ngôi sao xuất hiện dẫn
đường cho Ba Vua. Anh sáng đă bao phủ các ngài. Anh
sáng đă dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ.
Anh sáng đă khiến các ngài nh́n thấy "một trẻ
sơ sinh bọc tă, nằm trong máng cỏ" và các ngài
đă tin.
Đó là ánh sáng hy
vọng.
Hài
nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế
giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh
đất ph́ nhiêu. Những người nghèo của Thiên
chúa âm thầm kiên tŕ chờ đợi. Những tâm hồn
thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời t́m
kiếm. Niềm khao khát đă được đáp
ứng. Đă đến mùa Thiên chúa gieo hạt. Hạt
mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả
nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành
cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ
Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi
chiếu đêm tối nhân gian. Anh b́nh minh Giêsu hứa
hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu,
một thời đại mới khởi đầu:
những người bé nhỏ được nâng lên,
những người nghèo hèn được kính trọng.
Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên chúa gieo vào thế
giới.
Đó là ánh sáng Tin
Mừng.
Được
thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành
những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm
vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà c̣n chia sẻ ánh sáng
với những người chung quanh. "Họ kể
lại điều đă được nói với họ về
Hài Nhi này". Tin Mừng được loan đi. Niềm
vui lan tới mọi tâm hồn. Ánh sáng bừng lên phá tan
đêm tối.
Hài
nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay
ân cần chăm bón để vươn thành cổ
thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem
ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần
được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho
ánh sáng lan rộng.
Xin
cho con được trái tim của các mục đồng
biết mở ḷng ra đón nhận ánh sáng và biết đem
ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm
tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng
của Chúa.
I.
TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Lc 2,1-14
II.
TẤM BÁNH CHIA SẺ
Đêm
nay, tại các nhà thờ trên khắp thế giới vang lên
lời ca của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh năm
xưa:
“Vinh danh Thiên Chúa trên
trời,
B́nh an dưới
thế cho người Chúa thương”
Lời
hát của các thiên thần chính là sứ điệp của Chúa
từ trời cao gửi xuống. Lời hát này nối
kết đất với trời. Lời hát này ràng
buộc Thiên Chúa với con người.
Tại
sao ““Vinh danh Thiên Chúa trên trời” phải đi liền với
“B́nh an dưới thế cho
người Chúa thương”? Thưa v́ Thiên Chúa yêu
thương con người. Thiên Chúa tự ràng buộc ḿnh
với con người.
V́
yêu thương nhân loại, Con Thiên Chúa đă xuống thế
làm người. V́ yêu thương nhân loại, Ngài tự
nguyện trở nên một trẻ thơ yếu ớt. V́
yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện làm con
của loài người, sinh ra bởi một người phụ
nữ. V́ yêu thương nhân loại, Ngài đă muốn
trở nên một thành viên trong gia đ́nh nhân loại, có
một gia đ́nh như những người khác.
Thiên
Chúa đă tự nguyện làm một người như
chúng ta, Thiên Chúa tự đồng hóa với con
người đến nỗi từ nay ai khinh miệt
một con người là khinh miệt chính Chúa, ai bạc đăi
một con người là bạc đăi chính Chúa, ai hà
hiếp một con người là hà hiếp chính Chúa. Ai xúc
phạm đến con người là xúc phạm đến
Chúa.
Hang
đá Bêlem là một lời mời gọi tha thiết và
cấp thiết cho tương lai nhân loại. Thiên Chúa hóa
thân làm một trẻ sơ sinh để mời gọi ta
hăy biết tôn trọng sự sống. Thiên Chúa sinh ra làm
một trẻ thơ yếu ớt để mời
gọi ta hăy biết yêu thương những người
bé nhỏ, yếu hèn. Thiên Chúa sinh ra trong cảnh nghèo nàn
để mời gọi ta hăy biết nâng đỡ
những người nghèo khổ. Thiên Chúa sinh làm con Đức
Mẹ Maria để mời gọi ta hăy biết kính
trọng phụ nữ. Thiên Chúa sinh ra trong một gia
đ́nh để mời gọi ta hăy biết bảo vệ
những truyền thống tốt đẹp đem
lại hạnh phúc cho gia đ́nh.
Lời
mời gọi này có tính chất quyết định không những
cho hạnh phúc chóng qua mà c̣n cho hạnh phúc vĩnh cửu của
con người.
V́
ai tôn trọng con người là tôn trọng chính Chúa. Ai phục
vụ con người là phục vụ chính Chúa. Như
lời Chúa dạy: mỗi lần ta cho kẻ đói ăn,
cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn
mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, là ta làm
cho chính Chúa (x. Mt 25).
Như
thế, lễ Chúa Giáng Sinh là lễ của phẩm giá con người.
Chúa xuống trần để nâng cao phẩm giá con người.
Chúa làm người để con người
được kính trọng. Con người cao quư v́ đă
được nâng lên làm con Thiên Chúa.
Như
thế, lễ Giáng Sinh là lễ của niềm vui. Vui v́ con
người được Thiên Chúa yêu thương. Vui v́
con người được nâng lên địa vị cao
trọng. Hôm nay khi đọc Kinh Tin Kính đến câu: “V́
loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi,
Người đă từ trời xuống thế”, ta hăy
quỳ gối trước t́nh yêu thương cao cả
của Chúa dành cho ta. Quỳ gối để suy niệm
sự cao cả của con người v́ được
Chúa yêu thương.
V́
thế, để mừng lễ Chúa Giáng Sinh cho đúng ư nghĩa,
tôn thờ Thiên Chúa vẫn chưa đủ, ta c̣n phải
yêu thương kính trọng con người. Dịp lễ
Giáng Sinh, chỉ đến viếng hang đá thôi chưa
đủ, ta c̣n phải đến viếng những nhà
tranh vách đất, giúp dựng lại những túp lều
xiêu vẹo. Chỉ đến viếng Chúa Giêsu bé thơ
thôi chưa đủ. Ta c̣n phải đến viếng
những trẻ em bị bỏ rơi, vực dậy
những tuổi thơ bất hạnh. Chỉ cảm
thương Thánh Gia trong hang đá nghèo nàn thôi chưa
đủ. Ta c̣n phải cảm thương những anh
chị em nghèo khổ, thiếu may mắn ở quanh ta.
Chỉ
khi nào tất cả mọi người được yêu
thương, ta mới có thể mừng lễ Giáng Sinh
thật sự vui tươi. Chỉ khi nào tất cả
mọi người bé nhỏ, yếu ớt, nghèo hèn
được kính trọng, ta mới có thể hát vang
lời ca:
“Vinh danh Thiên Chúa
trên trời,
B́nh an dưới
thế cho người Chúa thương”
Trong
tâm t́nh yêu mến và kính trọng, tôi xin gửi tới
tất cả anh chị em lời cầu chúc đầy
b́nh an và ân sủng của Chúa Hài Nhi Giáng Sinh. Amen.
III.
TẤM BÁNH HÓA NHIỀU
1)
Vinh danh Thiên Chúa trên trời. B́nh an dưới thế cho người
Chúa thương. Khi hát câu này bạn có ư thức mối liên
hệ chặt chẽ giữa Thiên Chúa với con
người không?
2)
Tại sao Chúa Giêsu đ̣i buộc ta phải yêu mến con người
nếu ta thực sự yêu mến Chúa?
3)
Lễ Giáng Sinh này, bạn sẽ làm việc cụ thể
nào để thực sự mừng đón Chúa đến?
I.
TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga 1,1-18
II.
TẤM BÁNH CHIA SẺ
Thánh
Gioan Tông Đồ định nghĩa: “Thiên Chúa là t́nh yêu”. Thiên Chúa đă bày tỏ
t́nh yêu của Ngài bằng nhiều cách dưới
nhiều h́nh thức khác nhau. Nhưng Thiên Chúa với h́nh
ảnh ta khó thấy được và nhiều khi không nhận
ra những công tŕnh t́nh yêu của Ngài. Yêu nhiều rồi cũng
có lúc phải nói ra. Thiên Chúa quá yêu thương con
người nên sau cùng đă gửi Con Một của Ngài
xuống trần để tỏ cho ta biết t́nh yêu Thiên
Chúa. Con Một Thiên Chúa chính là Lời của Chúa ngỏ
với nhân loại. V́ thế ta hăy vào hang đá Bêlem
để lắng nghe được Lời Chúa nói với
ta. Chúa Giêsu bé thơ không nói bằng âm thanh vật lư,
nhưng Ngài nói bằng âm thanh của trái tim. Lời của
Ngài là lời của t́nh yêu. Qua bản thân Ngài, qua ánh
mắt Ngài, qua khung cảnh hang đá, ta sẽ nghe
được tiếng th́ thầm của Thiên Chúa.
Tiếng th́ thầm đó là tiếng nói của t́nh yêu
dưới nhiều sắc mầu khác nhau.
Đó
là tiếng nói của t́nh yêu dâng hiến. Bêlem theo tiếng Do
Thái có nghĩa là nhà bánh. Chúa Giêsu tự nguyện trở thành
tấm bánh nuôi dưỡng chúng ta. Ngài nằm trong máng
cỏ như một lương thực mời gọi
đoàn chiên đến để được bổ
dưỡng. Lương thực đó không phải là
lương thực vật chất nuôi xác, nhưng là
lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn.
Ngày nay, tuy nạn đói cơm bánh đă bớt phần gay
gắt, nhưng lại xuất hiện những cơn
đói mới: đói văn hóa, đói sự an ủi chia
sẻ, và nhất là đói khát đời sống thiêng
liêng. Chúa Giêsu chính là tấm bánh bẻ ra cho thế giới
mới, đáp ứng những cơn đói mới của
thế giới.
Đó
là tiếng nói của t́nh yêu khiêm nhường. T́nh yêu chân
thực là t́nh yêu khiêm nhường. T́nh yêu hạ ḿnh v́ người
yêu. Chúa Giêsu đă hạ ḿnh thẳm sâu. Từ trời xuống
đất. Từ địa vị Thiên Chúa xuống
địa vị làm người. Khiêm nhường nên
nhường hết không gian cho con người. Những
không gian rộng lớn, cao sang thuộc về con người.
Chúa chỉ thu ḿnh trong một góc nhỏ nghèo hèn của chuồng
ḅ. Nhường không gian cho con người ăn nói. C̣n Chúa
chịu im lặng, thu nhỏ trong câm nín.
Đó
là tiếng nói của t́nh yêu đi t́m. T́nh yêu của Thiên Chúa
luôn đi những bước trước. Yêu con
người khi con người chưa biết yêu Chúa. Tha
thứ cho con người trước khi con người
xin lỗi. Đi t́m con người trước khi con người
quay về. Cuộc đi t́m thật vất vả. Chúa
phải bỏ trời cao, phải mặc thân phận
yếu hèn, phải chịu khổ sở, phải chịu nhục
nhă, phải chịu chết mới t́m được con
người.
Đó
là tiếng nói của t́nh yêu hy sinh. V́ yêu nên Chúa chấp
nhận hết những thiệt tḥi về phần ḿnh.
Chịu đói nghèo, chịu bị xua đuổi, chịu
khổ nhục. Trẻ thơ Giêsu rét mướt nằm
trong máng cỏ nói với ta điều ǵ nếu không phải
là t́nh yêu, yêu đến độ chấp nhận tất
cả.
Đó
là tiếng nói của t́nh yêu kết hợp. Cứ dấu
này các ngươi nhận biết Ngài, đó là một em bé
sơ sinh nằm trong máng cỏ. Vâng, kỳ diệu thay t́nh
yêu Thiên Chúa. V́ yêu nên đă kết hợp trọn vẹn
với con người. Trở nên một với con
người. Chấp nhận hết những ǵ của con
người. Chấp nhận đói khát, khổ sở,
nghèo nàn. Chấp nhận cả những bấp bênh, bất
trắc của kiếp người.
Lời
Thiên Chúa đang ngỏ với ta qua Hài Nhi nằm trong máng
cỏ. Hăy đến bên hang đá để nghe
được tiếng nói của Thiên Chúa. Hăy mở
rộng trái tim để đón nhận được t́nh
yêu của Thiên Chúa. Trong bóng tối hận thù, ích kỷ,
ghen ghét của thế giới, t́nh yêu Chúa là ánh sáng xé tan đêm
tối. Hăy để ánh sáng t́nh yêu Chúa soi chiếu tâm
hồn ta. Hăy đón nhận ánh sáng t́nh yêu của Chúa,
để đến lượt chúng ta, chúng ta đem ánh
sáng t́nh yêu của Chúa chiếu soi vào môi trường chung
quanh ta. Để cho thế giới bớt tối tăm. Bấy
giờ Lời của Chúa, Lời t́nh yêu sẽ vang dội
khắp thế giới.
III.
TẤM BÁNH HÓA NHIỀU
1)
Bạn nghe thấy ǵ qua tiếng nói thinh lặng của Hài
Nhi Giêsu trong máng cỏ?
2)
Yêu thương, ngỏ lời mà không được
lắng nghe và đáp lại. Bạn cảm thấy thế
nào nếu rơi vào t́nh trạng đó? Bạn có hiểu
được ḷng Thiên Chúa khi ngỏ lời yêu thương
với bạn không?
3)
C̣n nhiều người chưa nghe được lời
yêu thương của Chúa. Bạn có sẵn sàng làm sứ
giả đem lời t́nh yêu của Chúa đến với
họ không?
4)
Để làm sứ giả t́nh thương, bạn cần
những đức tính nào?
Những
t́nh tiết chung quanh sự việc Đức Giêsu Giáng Sinh
là nguồn đề tài cho rất nhiều thiên khảo sát
thông thái, là cảm hứng bất tận cho những suy
niệm thiêng liêng và thi ca hướng thượng.
Những nhà uyên bác muốn xem bản văn của thánh Luca
như một thiên kư sự trong đó thực tế
lịch sử được thích ứng với một
mẫu tín ngưỡng dân gian bắt rễ ở những
công thức kinh điển Cựu Ước. Sự
suy–niệm thiêng liêng đă biết nhận ra trong kư sự
ảnh hưởng của thuyết hiện thực
lịch sử, vừa nhân bản vừa có tính chất thần
linh, khi thuyết này được áp dụng, để
khảo sát sự việc Thiên Chúa đến trong nhân
loại. Dù sao, những công tŕnh khảo cứu bác học
và sự suy niệm thiêng liêng cũng gặp nhau ở
điểm cùng xác nhận tính chất chắc chắn
của những sự kiện sau đây: bà Maria và ông Giuse
đă đến Bêlem, nơi đây Đức Giêsu Cứu
Thế đă Giáng Sinh, cũng tại đây những kẻ
đầu tiên đă tin vào sự loan báo lớn lao này.
Thánh
Luca viết bản văn này khoảng thời gian rất lâu
sau biến cố. Lúc ông soạn bộ Phúc âm mang tên ông th́
sự kiện Phục sinh và Hiện xuống đă xảy
ra rồi. Giáo Hội sơ khai đặt ra kinh nguyện
theo sát kinh nghiệm thiêng liêng thu thập được. Có
thể là Giáo Hội đă tuyển trong khối tài liệu
phong phú về biến cố Giáng Sinh để lựa
lấy những điều nào hợp với kinh nghiệm
nhất: Vinh danh dâng lên Thiên Chúa và b́nh an được ban
cho loài người dưới thế đă
được thánh Luca trích ra để dùng từ một
kinh nguyện phụng vụ, chính bản kinh này bắt
nguồn ở mầu nhiệm tổng quát Giáng Sinh,
Vượt qua và Hiện xuống. Ngày nay khi chúng ta mừng
một biến cố xảy đến trong lịch
sử Đức Giêsu, điều lợi ích cho ta là
chớ lăng quên toàn bộ Mầu Nhiệm Đức Kitô,
Con Chúa xuống thế làm người, để nhờ tác
động của thần trí Người, Đức Kitô
thực hiện trong Giáo Hội sứ mạng làm vinh danh
Chúa Cha và cứu rỗi nhân loại anh em Người. Xin
lấy một ví dụ thực tế để gợi ư.
Lĩnh ơn hoà giải qua bí tích giải tội, và tham
dự sốt sắng thánh lễ tạ ơn – đó là
những nguồn vui thật sự vào dịp Giáng Sinh. Ngoài
ra, thi vị hoá ngày lễ và nô nức mừng lễ,
cả hai chỉ là bộ áo phủ ngoài. Chúng ta có thể
dừng lại ở hai chủ đề suy niệm:
1) Thiên sứ
được Chúa sai đến bảo cho những
mục đồng biết: Ta loan báo cho anh em một
niềm vui lớn, nó cũng sẽ là niềm vui chung cho
toàn dân. Đây là một niềm vui đáp ứng một hy
vọng. Từ bao thế kỷ; năo trạng
2) Hôm nay một
Đấng Cứu Thế được sinh ra cho anh em. Dù
cam phận hay nổi loạn con người bị
cưỡng bách phải nhận định điều này:
đời sống cá nhân tiến dần đến cơi
chết, đến chỗ tiêu tan bản thể.
Phần
tự ngôn Phúc âm theo thánh Gioan khuyên nhủ chúng ta nhận
thức rơ tầm mức siêu phàm của lễ Giáng Sinh,
cũng như sự uy nghi của mầu nhiệm Giáng Sinh.
Con trẻ Giêsu là Ngôi Lời nhập thể đến
cư ngụ giữa chúng ta. Đứng trước Hài nhi
bé mọn ở Bêlem, chúng ta được mời tiến
sâu vào chính mầu nhiêm Thiên Chúa, tới chỗ của Ngôi
Lời – tức là Lời hằng sống và thân mật
của Thiên Chúa đă có trước toàn thể vũ
trụ. Như vậy chúng ta được mời hăy đến
thờ lạy. Kẻ thờ phụng là kẻ khi
được tới gần bên Thiên Chúa liền nhận
thức sâu sắc rằng ḿnh là kẻ tuỳ thuộc, vô giá
trị, tội lỗi nữa. Kính thờ và thinh lặng,
cảm tạ và vui sướng, đó là cách tuyên xưng
Chúa là sự Thiện tuyệt đối và nguồn
mọi ơn lành. Lễ Giáng Sinh mời chúng ta đến
thờ lạy Con trẻ Giêsu. Trong Hài Nhi, Thiên Chúa rất
gần gũi – trong Hài nhi có sự sung măn của Thiên Chúa –
và nhờ Hài nhi, chúng ta được có mặt trên thế
gian để sống, hiểu biết và yêu thương.
Sự suy niệm về một vài từ ngữ trong
tự ngôn của thánh Gioan có thể cung cấp cho chúng ta một
phong cách thờ phụng.
1) Trong Đức
Giêsu, chúng ta thờ lạy Đấng tạo hóa. Năo trạng nhân
lạo thời nay dễ loại bỏ ư niệm về
Đấng tạo hoá, con người chỉ muốn
những ǵ ḿnh có là do sức ḿnh. Một số tiến
bộ nào đó để t́m hiểu những diễn
biến vật chất của sự sống, đă đem
lại chước cám dỗ xui con người muốn
quyết định ai sẽ có quyền được
sinh ra và cuộc đời ḿnh sẽ diễn tiến
thế nào. Con người quên mất nguồn gốc ḿnh, quên
hẳn sự thể bởi đâu mà ḿnh có được
thân xác, có được sự sống. Con người suy
tư và hành động như thể không bị hoàn toàn
tuỳ thuộc vào Đấng tạo hoá đă tạo thành
y. Trong Đức Giêsu, chúng ta thờ lạy Đấng
đang có, trước đây vốn có, và đến trong
thế gian (Mạc khải 4, 8), nghĩa là Đấng
hiện hữu ngoài thời gian, đă có trước hết
mọi khởi đầu, do Người mà muôn vật
được tạo thành. Lễ Giáng Sinh tức lễ
Nhập Thể cho thấy một sự tự ư hạ ḿnh
nào đó của Thiên Chúa. Để làm nổi bật
sự tương phản giữa tất cả và hư
vô. Chúng ta được mời hăy ư thức lại về
thân phận thụ tạo của ḿnh hăy thờ phụng
Thiên Chúa đă tạo thành chúng ta. Thiên Chúa là Đấng
tự hữu, Người không được tạo
thành- phần chúng ta, chúng ta đă được tạo thành.
V́ thế, chúng ta phải suy tư và hành động theo chiều
nghĩ: nhờ Thiên Chúa mà chúng ta có được mọi sự.
2) Nhờ
Đức Giêsu, chúng ta thờ lạy trong tâm trí và trong
sự thật. Một trong những diện chủ yếu
và bi kịch nhân loại là con người thường
nhiều phen lầm lạc trong khi thờ phụng. Luôn luôn
con người bị cám dỗ thờ ngẫu tượng.
Tại sao? V́ lẽ, nếu không có Đức Kitô th́ nhân
lại chỉ c̣n biết ḍ đường trong đêm
tối – trí tuệ bị u ám, trái tim chán nản hết sinh
động. Thế mà Đức Kitô là Ánh sáng. Người
là Sự Sống, và sự sống là Ánh sáng nhân loại.
Thờ phụng cách linh hoạt giống như tâm hồn
tiến bước trên đường tới đích là
Thiên Chúa. Phải được soi sáng mới khỏi
lạc đường. Đức Kitô- Aùnh sáng soi sáng trí
tuệ con người và chỉ con người thấy
đường đi của số mệnh y.
Ánh
sáng và sự sống liên kết với nhau. Kẻ thờ
các ngẫu tượng (khoái lạc, danh vọng, tiền
của, thế gian) th́ ḍ dẫm trong bóng tối linh
hồn, và hiến ḿnh cho những vật chết. Cách vô
h́nh, và nhiều phen thật bất hạnh cho y, kẻ ấy
liên kết trong tâm hồn bóng tối và sự chết. Trái
lại, người nào tiếp nhận ánh sáng, tức quy
tắc về Chân Lư, do niềm tin vào Đức Kitô phát ra,
người ấy liên kết trong tâm hồn Ánh sáng và
sự sống.
Lễ
Giáng Sinh mừng ánh sáng. Trong khi vui ngắm những giây
đèn giăng mắc ngoài đường phố và trong tư
gia, chúng ta hăy nhớ đến sự cần thiết hàng
đầu là làm thế nào để Ánh sáng Đức Kitô
soi sáng ḷng và trí chúng ta.
Đêm
Giáng Sinh, cả gia đ́nh vui vẻ đi dự lễ,
nhưng người chủ gia đ́nh không đi. Ông
nghĩ Giáng Sinh là một câu chuyện huyền thoại,
Thượng Đế mà thành một người là
điều vô lư.
Đêm
đông lạnh giá, vợ con đều đi lễ,
một ḿnh ông ở nhà, ngồi nghe gió lạnh rít qua khe
cửa. Bỗng có tiếng đập mạnh vào cửa
sổ. Hé rèm nh́n ra, ông thấy những con chim sẻ
đang lao đầu vào cửa kính. Ông không muốn mở cửa
dù thấy tội nghiệp lũ chim, v́ ông sợ mưa
hắt vào nhà. Những con chim bay vô sẽ làm náo
động. Ông nghĩ nếu chúng muốn t́m chỗ
ấm áp, an toàn th́ có thể vào kho lúa ở pḥng kế. Ông
mặc áo ấm và đi hé mở cửa kho lúa. Nhưng
không có cách nào kêu bầy chim vô kho lúa được, dù ông
ráng gọi và ra hiệu. Những con chim không hiểu ư ông.
Chúng vẫn lao đầu vô vọng vào các khung cửa kính có
ánh đèn. Ông tự nhủ: giá ḿnh là một chim sẻ th́
ḿnh sẽ dẫn cả bầy chim t́m được
nơi trú an toàn ấm áp.
Nghĩ
tới đó, ông chợt hiểu ư nghĩa của lễ
Giáng Sinh. Con người rất khó mà hiểu Thiên Chúa,
cũng như những chim sẻ không hiểu ư ông. V́
thế Thiên Chúa mới cần trở thành một con
người, cần nói tiếng con người, sống cuộc
sống con người, dù Ngài vẫn là Thiên Chúa. Có như thế,
những ư định, những bài học của Ngài
mới được con người thông hiểu và lănh
hội. Dĩ nhiên, Thiên Chúa trở thành một người
có lẽ c̣n khiêm hạ hơn việc con người
trở thành một chim sẻ. Nhưng ư nghĩa th́ cũng
tương tự. Cần trở nên một con chim
để lănh đạo bầy chim! Cần phải có
một người, cũng là Thiên Chúa, để dạy
dỗ và đưa con người đến ơn cứu
độ.
Bài
học đầu tiên lễ Giáng Sinh dạy ta là bài học
khiêm tốn. Thiên Chúa cao cả quyền uy. Trong Cựu
Ước, mỗi lần Giavê xuất hiện là có sấm
chớp, mây gió làm dân chúng kinh hăi giấu mặt. C̣n bây
giờ Thiên Chúa Giáng Sinh nơi trần gian, Ngài đă
chọn một xóm làng bé nhỏ. Nhưng ngay ở xóm làng bé
nhỏ đó, Ngài cũng không có chỗ ở, phải ra cánh
đồng tạm trú trong một hang đá. Mẹ Maria sinh
Chúa, lấy tă bọc con và đặt nằm vào máng cỏ.
Người
ta mong chờ Đấng Cứu Thế từ bao năm. Nhưng
ai cũng nghĩ tới một Chúa Cứu Thế quyền
uy, giàu có và mạnh mẽ! C̣n đây Chúa tới như
một em bé, hèn, yếu, chẳng ai biết tới và
đón chào. Đường lối Thiên Chúa bao giờ
cũng bí nhiệm, xem như nghịch lư, khó hiểu, ngay cả
những người đạo hạnh cũng khó nhận
ra.
Thiên
thần Chúa đă đến với các mục đồng,
những người nghèo, và ánh vinh quang Thiên Chúa bao phủ họ,
ánh quang tỏa sáng, đó là dấu hiệu Thiên Chúa hiện
diện. Hào quang Thiên Chúa thường xuất hiện
nơi đền thánh. Từ đây, ánh quang đó che
phủ những người nghèo. Chúa tự nhận ḿnh vào
số những người nghèo khó: “Việc ǵ các con làm cho
một người nhỏ bé nhất, là các con làm cho Ta”.
Thiên
thần loan báo một “Tin Vui”, một tin vui cho toàn dân.
Đó là Chúa Cứu Thế đă Giáng Sinh, Ngài là Đức Kitô,
là Thiên Chúa. Chúng ta có thấy tâm hồn hân hoan vui vẻ khi
được đón Chúa vào ḷng không? Muốn
được niềm vui này, muốn nhận ra Chúa
Cứu Thế và đón tiếp Ngài, phải theo đúng
dấu hiệu thiên thần đă chỉ: “Một em bé
sơ sinh, bọc tă nằm trong máng cỏ”. Phải
đơn sơ khiêm tốn, không được khinh
thường những người bé nhỏ khó nghèo. Chúa nằm
trong máng như một thức ăn, để nuôi sống
chúng ta.
Lạy
Chúa, Ngài hạ ḿnh xuống làm người, để
dẫn đưa con người về với Chúa. Chúng con
xin tạ ơn Ngài. Xin giúp chúng con theo gương Chúa,
biết hạ ḿnh phục vụ Chúa trong mọi
người, trở nên anh chị em của mọi
người trong xă hội hôm nay.
Vào
năm 1994, hai nhà giáo Mỹ được bộ giáo
dục Nga mời sang dạy. Nhân mùa Giáng Sinh họ
đến thăm một viện mồ côi, và kể
chuyện Chúa Sinh Ra cho trẻ. Các em mồ côi cũng như
ban quản đốc sung sướng há hốc mồm ngồi
nghe họ kể chuyện Giáng Sinh. Sau đó, họ phát cho các
em vật dụng thủ công để làm Máng Cỏ. Trong
khi đi tới đi lui trông các em làm Máng Cỏ, họ
ngạc nhiên khi thấy Máng Cỏ của bé Misha, trông
chừng 6 tuổi, có đến hai bé sơ sinh nằm trong
máng. Đức Mẹ sinh đôi? Không thể
được! Bỡ ngỡ, nhưng b́nh thản, họ
mời Misha kể lại đầu đuôi câu chuyện
Chúa Sinh Ra. Nhỏ Misha kể rất thông suốt, rành mạch,
đúng với Tin Mừng, từ lúc Truyền Tin cho
đến khi hai ông bà không t́m được chỗ trong
quán trọ. Nhưng khi đến phần Đức
Mẹ sinh Chúa Giêsu và đặt trong máng, th́ em bắt
đầu tự do cho thêm mắm muối: Khi Đức
Mẹ đặt Bé Giêsu vào trong máng, th́ Bé nh́n em và hỏi:
em có chỗ ở chưa? Em thưa: Con đâu có cha, có
mẹ, con đâu có nhà! Vậy th́ em ở với tôi nhé!
Nhưng em ngại ngùng: con đâu có quà ǵ để tặng
Chúa như người khác được! V́ em rất mong
muốn được ở với Bé Giêsu, nên em nghĩ em
có thể tặng Chúa tất cả những ǵ em có: Hay là
con ôm Chúa cho Chúa ấm được không? Tuyệt, món quà
quư đó chưa ai cho tôi cả. Thế là em nhảy ngay vào
trong máng cỏ này và nằm ôm cho Chúa ấm. Chúa Giêsu cũng
giang tay ôm lấy em và bảo: Em có thể ở với tôi
luôn luôn. Vừa nói Misha vừa lấy tay chùi mắt chùi
mũi. Lệ đă tuôn thành gịng trên g̣ má hốc hác của
em bé mồ côi.
Hăy
vào đây, hỡi những Misha, v́ khi Ta đói, các ngươi
đă cho ăn; Ta khát, các ngươi đă cho uống; Ta là
khách lạ, các ngươi đă tiếp rước; Ta
trần truồng, các ngươi đă cho mặc; Ta đau
yếu, các ngươi đă thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi
đă đến thăm. Ta bảo thật các ngươi:
mỗi lần các ngươi làm như thế cho một
trong những anh chị em bé nhỏ nhất của Ta
đây, là các ngươi đă làm cho chính Ta vậy (Mt 25,
35-36, 40). Giữa ḷng đời hôm nay cũng lắm
trẻ thơ lạnh giá. Ngay trong xă hội Hoa Kỳ, và các
nước tân tiến, giàu sang cũng đầy kẻ,
đầy trẻ homeless. Không những homeless v́ không có
căn nhà để ở, không t́m được chỗ trong
quán trọ, mà c̣n homeless ngay giữa bốn bức tường
được cách hàn, cách nhiệt (insulation) v́ phải
sống giữa những trái tim được insulated -
cách biệt quá kỹ bởi cá nhân chủ nghĩa, tư
lợi chủ nghĩa, hưởng thụ chủ nghĩa,...
bởi gia đ́nh tan vỡ, ly dị, ly thân. Các em ấy
đang mong đợi ṿng tay ấm áp của bạn đó!
Các em ấy đang giang tay mong chờ con tim bằng
thịt, biết yêu, và yêu nồng nàn ấm áp của
bạn đó! Và nếu lỡ các em ấy chính là
người trong nhà bạn th́ đau lắm! Lạnh
ngắt con tim! Mời bạn mở rộng con tim, nhảy
vào máng cỏ cuộc đời, sưởi ấm
những bé thơ đang cần nhờ bạn, để
không phải Đức Mẹ sinh đôi mà c̣n là Mẹ muôn
người.
Xin
Chúa Giêsu ngự trị con tim bạn!
Chúa
Giêsu ngự trị ḷng ta, luôn luôn!
“Vinh danh
Thiên Chúa trên trời, b́nh an dưới thế cho loài
người Chúa thương”. Nh́n vào bất cứ một hang đá nào chúng
ta đều nh́n thấy hàng chữ trên, đây là sứ
điệp của lễ giáng Sinh Thiên Chúa gửi cho
tất cả loài người, sứ điệp đó
chính là lời ca hát tung hô của các thiên thần trên hang
đá Bêlem xưa kia.
Trước
hết, về việc tôn vinh Thiên Chúa, chúng ta thấy các
thiên thần, đất đá, cỏ cây, trời
đất… c̣n biết ca tụng vinh quang Thiên Chúa, c̣n con
người chúng ta th́ sao? Biết đâu chúng ta sống mà
không sống tôn vinh Thiên Chúa, tệ hơn nữa, có thể
chúng ta c̣n ăn cắp vinh danh Chúa hoặc xóa bỏ vinh danh
Ngài. Đáng lẽ của Thiên Chúa phải trả cho Ngài,
đáng lẽ chúng ta phải làm cho người khác biết
mà ca ngợi Cha chúng ta trên trời th́ chúng ta đă làm
ngược lại chăng? V́ thế, chúng ta hăy tôn vinh danh
Chúa trong cuộc đời chúng ta và bằng chính con
người chúng ta, nghĩa là chúng ta hăy thể hiện
bằng việc phục vụ mọi người và
phục vụ bằng những việc làm tốt. Chúng ta hăy
nhớ: bao lâu chúng ta c̣n sống với người khác và trong
xă hội, bấy lâu chúng ta c̣n có vô số hoàn cảnh làm sáng
danh Chúa, bởi v́ chúng ta luôn luôn có thể phục vụ, mà
phục vụ con người, phục vụ xă hội,
bất cứ cách nào, miễn là bằng việc làm tốt
th́ chính là một cách tôn vinh danh Chúa, là góp phần làm sáng lên
trong Giáo Hội và xă hội h́nh ảnh sống động
của Thiên Chúa giàu ḷng thương xót, là góp phần làm sáng
lên t́nh thương yêu của Chúa trong lịch sử
cứu độ.
C̣n
vấn đề “B́nh an dưới thế cho loài
người Chúa thương”
th́ sao? Câu đó bảo cho chúng ta biết: muốn có b́nh
an, muốn được b́nh an, chúng ta phải có thiện
tâm, nghĩa là lời các thiên thần là lời công bố
b́nh an, nhưng lại gồm một điều kiện
cần thiết: phải có thiện tâm. Thiện tâm không
phải là hoàn hảo, cũng không đ̣i phải toàn thiện,
nhưng là có một tấm ḷng ngay thẳng, trong sạch,
bởi v́ chúng ta chỉ được b́nh an khi
lương tâm trong sạch, như thánh Gioan Kim Khẩu nói:
“Một lương tâm trong sạch là nguồn b́nh an
lớn nhất trong cơn hoạn nạn”. Hơn nữa, một
tấm ḷng trong sạch là một máng cỏ sẵn sàng
để Chúa Hài đồng đến ngự. Nếu b́nh
an của Chúa là như thế th́ chúng ta có được
lời chúc phúc của các thiên thần không? Muốn biết
có hay không, chúng ta hăy nh́n vào kết quả của việc làm.
Không ai cho cái ḿnh không có, một người không có b́nh an
thật sự của tâm hồn, họ sẽ chạy
đi đây đi đó để t́m b́nh an giả tạo
bên ngoài, nơi người khác hay sự vật và hoàn
cảnh chung quanh, đó là những nơi thiếu vắng
t́nh yêu của Chúa. Điều này rất dễ kiểm
chứng, như sách Đại Học viết: “Một con
tim không ngay chính, bất an xáo trộn, th́ con người
ấy dù có giương mắt ếch ra mà nh́n cũng không
thấy, lắng tai nghe cũng không được ǵ, mà có ăn
nhậu ǵ cũng chẳng biết mùi vị nữa”.
Đó, một khi con tim đă bất an, đă xốn xang mà
c̣n ảnh hưởng tới cái nh́n, việc nghe và ăn
uống như vậy, th́ huống chi là khi tâm hồn chúng ta
hiểm độc, gian ác, tham lam c̣n ảnh hưởng tới
gia đ́nh và xă hội biết chừng nào, c̣n đâu
nữa “Tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ”.
Hôm
nay ngày Chúa Giáng Sinh, ngày Chúa ban b́nh an, Chúa muốn chúng ta
kiểm điểm lại từng tâm hồn, từng gia
đ́nh, từng cộng đoàn có được thực
sự thứ b́nh an mà Chúa từ trời mang xuống không?
Xin mời mọi người hăy hồi tưởng
lại xem cuộc đời ḿnh đă gây bất an, xáo trộn,
sóng gió cho những ai và lư do tại sao vậy, và bây giờ
ḿnh và người đó có c̣n bất an với nhau không?
Tại sao c̣n nh́n nhau bằng nửa con mắt, hoặc
bất ngờ gặp nhau th́ lại tránh né? Xin hăy nh́n
lại gia đ́nh ḿnh: tại sao gia đ́nh lại ngột
ngạt, xô xát, chiến tranh lạnh, chia đủ phe cánh, lườm
nguưt, hành tỏi, lừa đối nhau, nghi ngờ nhau… có
gia đ́nh đang gặp chiến tranh nóng loại bỏ là
làm hại nhau, chà đạp danh dự của nhau.
Người ta bảo “trâu ḅ húc nhau, ruồi muỗi
chết oan”. “Hai con voi đánh nhau, dẫm nát đám cỏ non”,
chúng ta là những bậc bề trên, là người lớn,
là cha mẹ mà căi nhau, đánh nhau, thù oán nhau th́ ảnh hưởng
tai hại không nhỏ cho anh em, hàng xóm, cho chính con cái trong nhà
và ngoài xă hội, và hiện giờ gia đ́nh chúng ta đang
ở trong t́nh trạng nào?
Xin
mọi người hăy suy nghĩ cho kỹ hai chữ “b́nh an”
để sống cho ḿnh và giúp người khác cùng sống
b́nh an. Chúng ta hăy cầu xin Chúa Giêsu Hài Đồng: Lạy
Chúa, Chúa đă nói “Phúc cho người xây dựng b́nh an, v́
họ được gọi là con Thiên Chúa”, xin cho chúng con
vào số chúc phúc đó. Từ địa vị một
Thiên Chúa, Chúa đă hiện diện giữa nhân loại,
bằng ḷng chấp nhận thân phận đau khổ như
mọi người để đem họ về nguồn
b́nh an chân thật, th́ xin cho chúng con biết từ bỏ
mọi địa vị, khả năng, hoàn cảnh để
gieo văi tin mừng b́nh an. Chúa đă chết để đem
lại b́nh an thật, th́ xin đừng ai sống mà
cắt xén hay làm chết đi niềm vui, hy vọng
của anh em ḿnh. Xin Chúa đoái thương riêng đến
những gia đ́nh đang bất an v́ cơm áo, danh dự
để họ gặp lại cảnh gia đ́nh
đầm ấm yêu thương. Xin cho chúng con luôn
được sống trong b́nh an của Chúa.
"Từ
nguyên thủy đă có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn
ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa."
Chưa từng có một lời văn nào diễn
tả về cuộc nhập thể của Chúa Giêsu
một cách hào hùng và trang trọng như thế. Một Thiên
Chúa toàn năng đă mặc lấy xác phàm loài người chúng
ta. Ngài là sự sống và là ánh sáng thế gian (Ga 1,4). Thánh Gioan
nói cho ta biết trong và qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa mặc khải
cho chúng ta về t́nh yêu của Ngài đối với nhân loại.
Thế nhưng ở ngay giữa đoạn Thánh Kinh
huyền nhiệm đó, chúng ta đọc thấy câu,
"Ngài đă đến nhà các gia nhân Người và đă
không được đón nhận." Sau đó, Thánh Gioan lại
tiếp, "Chúng tôi đă nh́n thấy vinh quang của
Người, vinh quang Người nhận được
bởi Chúa Cha, như của Người Con Một
đầy ân sủng và chân lư" (Ga 1,14). Ở đây, Thánh
Gioan nhấn mạnh về mầu nhiệm t́nh
thương bao la của Thiên Chúa. Cho dù có bị chối
từ, Ngài vẫn đến để trao ban t́nh
thương cho chúng ta. Thánh Gioan đă viết tiếp rằng
những ai đón tiếp Ngài th́ Ngài ban cho họ
được quyền làm con Thiên Chúa.
Ở
đây, chúng ta hăy tự đặt ra cho ḿnh một câu hỏi,
"Làm
sao để chúng ta có thể được quyền làm
con Thiên Chúa? là công dân Nước Trời?" Câu trả
lời chúng ta t́m thấy ngay trong Phúc Âm.
"Hăy
để những trẻ nhỏ đến cùng
Thầy". Chúa Giêsu đă phán với các môn đệ.
"Nước Thiên Chúa thuộc về những kẻ
giống như chúng. Hăy tin Ta, nếu ai không đón nhận
Nước Thiên Chúa giống như chúng th́ chẳng được
vào Nước Trời" (Lc
Trong
giây phút linh thiêng của ngày Lễ Giáng Sinh, các bạn hăy
để cho tâm hồn ḿnh mở rộng để b́nh an
của Chúa đổ tràn vào. Hăy trở nên những trẻ
nhỏ. Hăy thưa tiếng "Xin Vâng" với Thiên Chúa.
Ngài sẽ làm tất cả. Ngài sẽ tẩy rửa và
chữa lành chúng ta, và ban cho chúng ta sự sống mới.
Ngài c̣n chỉ cho chúng ta con đường công chính dẫn
đến ơn cứu độ. Ngài sẽ ban cho chúng ta sức
mạnh để chúng ta có thể chu toàn nhiệm vụ
của chúng ta.
Khi
chúng ta c̣n đang nói về câu truyện Giáng Sinh, th́ có
lẽ chúng ta c̣n phải tưởng nghĩ đến
một phần của câu truyện Giáng Sinh nữa là
phần Đức Maria đang ngồi trên lưng con
lừa đi bên cạnh Thánh Giuse trên con đường gồ
ghề lởm chởm từ Galilêa đến Giuđêa. Khi
đến
Xin
các bạn hăy lănh nhận lấy Chúa Hài Đồng
để Ngài ban cho các bạn sức mạnh và t́nh yêu
để các bạn có thể chia sẻ những ơn
ấy cho người khác.
Xin
kính chúc tất cả các bạn được an
hưởng một mùa Giáng Sinh đầy tràn ơn b́nh an
và hạnh phúc của Chúa Hài Đồng!
Chắc
bạn cùng đồng ư với tôi khi nói: Đêm mừng Chúa
giáng sinh trở thành đêm hội của mọi
người và của thế giới. Tôi thấy
đường đi đông quá: người đi xe,
kẻ đi bộ nườm nượp. Tôi cũng
để ư, nét mặt mọi người đều ánh
lên vẻ vui tươi, hân hoan. H́nh như đêm nay ít
người ở trong nhà, nhưng người ta ra
khỏi nhà nhiều hơn. Rơ ràng, Giáng Sinh trở thành
đêm hội của mọi người. Chắc bạn
cũng như tôi đều hănh diện v́ lễ Giáng Sinh
không chỉ là lễ của người có đạo mà nó
là lễ của mọi người. Mầu nhiệm Thiên Chúa
làm người đă được mọi người
biết đến.
Thế
nhưng trong niềm hănh diện đó, tôi lại cảm thấy
một cái ǵ băn khoăn, ray rứt, xót xa. Chính lời
thiên thần hát trong đêm giáng sinh làm tôi phải âu lo. Âu lo
không v́ thiên thần hát, cũng không phải v́ lời hát
của thiên thần. Lời ấy làm cho ḷng tôi thêm yêu
mến và thánh thiện. Có thể bạn sẽ cho tôi là bi
quan. Tôi lo v́ nh́n vào thực tế, nhận ra sự vô tâm
của nhiều người. Lời của thiên thần
hát là lời ǵ? Thiên thần hát rằng: "Vinh danh Thiên
Chúa trên trời, b́nh an dưới thế cho người
thiện tâm". Đêm nay có bao nhiêu tâm hồn làm vinh danh
Thiên Chúa? Và nếu hiểu "thiện tâm" là thành tâm
thiện chí th́ có bao nhiêu người thành tâm thiện chí tôn
thờ Chúa để được b́nh an v́ đại
đa số nhân loại đă làm mất ư nghĩa của
lễ Giáng Sinh? Thay v́ kỷ niệm Ngôi Hai nhập thể
làm người, để hướng tâm hồn chuẩn
cho ngày Người trở lại, người ta biến
đêm hội giáng sinh thành đêm của ăn chơi sa
sỉ. Đêm nay biết bao nhiêu nhà hàng vũ trường
mở rộng để đón khách, và sẵn sàng mở
mọi dịch vụ để ch́u chuộng khách, dù cho có những
dịch vụ hết sức đê hèn. Biết bao nhiêu
tụ điểm vui chơi đang hoạt động
rầm rộ.
Chúng
ta nghĩ đến Palestina mà cảm thấy ngậm ngùi. Thành
phố Bêlem, nơi Đấng Cứu Thế đă
từng cất tiếng khóc đầu tiên, đêm giáng sinh
lại không thể sống trong ḥa b́nh. Trên chính quê
hương của Chúa Giêsu, nơi mà hai ngàm năm
trước, Người đă sinh ra, lớn lên. Và Tin Mừng
được rao giảng cho cả thế giới
cũng khởi đi từ đất nước này, khi
mà cả thế giới nô nức tưởng niệm Chúa
Giêsu sinh ra, Palestin lại chim trong chiến tranh.
Người ta đang giết hại lẫn nhau. Khúc hát
thiên thần: "B́nh an dưới thế cho người
thiện tâm" không có được trên chính quê
hương của Chúa Giêsu.
Biết
bao nhiêu tụ điểm ca nhạc, có thể là những
bài ca rất giáng sinh, ca ngợi Thiên Chúa. Nhưng những
ca sĩ và những người nghe những bài hát đó có
được một tâm hồn ca ngợi Thiên Chúa không,
hay chỉ là một thứ vui chơi nào đó? Biết bao
nhiêu chàng trai cô gái đêm nay ra khỏi nhà để vui
đêm hội giáng sinh? Và trong ḍng người trẻ
đó, chắc hẳn có rất nhiều thanh niên nam nữ
có đạo đánh đổi việc thờ
phượng Thiên Chúa bằng những thú vui vô giá mà những
người không có niềm tin đang say mê? Và có biết bao
nhiêu chàng trai cô gái choi choi, ào ra đường bằng những
chiếc xe phân khối lớn để lạng lách,
để đua xe hết tốc độ, để
rồi gieo không biết bao tai họa?
Nếu
đêm Chúa sinh ra - đêm hội Giáng Sinh là dịp để
người lao động vất vả, cả
lương lẫn giáo có thời gian nghỉ ngơi, có
dịp vui chơi giải trí lành mạnh, đêm mà mọi người
tạm quên đi những gánh nặng, những lo âu của
cuộc đời vốn đă có quá nhiều đắng
cay. Nếu đêm hội Giáng Sinh làm cho người ta
hạnh phúc như vậy, th́ nó mới đúng ư nghĩa
của mầu nhiệm Chúa làm người.
Cách
riêng, đối với người Công giáo, đêm Giáng Sinh
phải là đêm đặc biệt của việc tôn
thờ Thiên Chúa. Đêm kính nhớ t́nh yêu vô bờ bến
của Thiên Chúa. Chính nhờ t́nh yêu này, mà Chúa Giêsu đă giáng
sinh làm người, chia sẻ kiếp người của
mỗi chúng ta. Có tôn thờ Thiên Chúa thật ḷng như
thế, th́ Thiên Chúa trên trời mới được vinh danh
trong tâm hồn của mỗi người. Và tâm hồn
chỉ dành cho Thiên Chúa mà thôi, tâm hồn mới có b́nh an.
Tin
rằng bạn và tôi là những người thành tâm,
thiện chí tôn thờ Thiên Chúa. Xin hăy tạm quên những lo
toan, những vất vả hằng ngày. Hăy tạm gác
lại một bên những ǵ làm chúng ta xôn xao, chia trí, gác
lại một bên cái nghèo, cái khổ của cuộc
đời để bạn và tôi thực sự
được b́nh an trọn vẹn trong thánh lễ này. Có
như vậy, chúng ta mới dâng thánh lễ Giáng Sinh,
thờ phượng Thiên Chúa cách sốt sắng và ư
nghĩa.
Xin
kính chúc các bạn MỘT ĐÊM AN B̀NH, v́ chúng ta là những
người thiện tâm, đúng như lời thiên thần
hát: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời. B́nh an dưới
thế cho người thiện tâm".
Câu hỏi gợi
ư:
1.
Nếu bạn khám phá ra cha bạn - một người
rất giàu có - đă xếp đặt để mẹ
bạn sinh bạn ra trong một chuồng ḅ hay chuồng
heo của nhà ai đó, bạn sẽ nghĩ thế nào
về cha của bạn? Bạn lư giải thế nào
về việc Thiên Chúa đă quan pḥng để Đức
Giêsu, Con Ngài, ra chào đời trong một chuồng ḅ?
2.
Đặt ḿnh vào địa vị của Đức Maria
và thánh Giuse, bạn sẽ nghĩ và nói thế nào về
Thiên Chúa khi hai Ngài phải rời Nagiarét vào Bêlem, không t́m
được chỗ trọ, và phải sinh con trong
chuồng ḅ?
3.
Tại sao Thiên Chúa lại để cho Đức Giêsu
phải chịu đau khổ, nhục nhă từ khi sinh ra
đến lúc chết? Thiên Chúa ghét và muốn hành hạ Con
của Ngài chăng? Nếu không, phải lư giải thế
nào về sự kiện ấy?
Chia Sẻ
1. Con
Thiên Chúa cao sang lại sinh ra trong cảnh tột hèn kém
Chúng
ta thử tưởng tượng xem một vị hoàng
đế trần gian nếu biết trước
đứa con ḿnh sinh ra sẽ là vị cứu tinh của
trần gian, th́ hoàng đế ấy sẽ chuẩn bị
cho người con ấy chào đời như thế nào?
Chắc chắn ông sẽ chuẩn bị cho con ḿnh một
nơi thật xứng đáng, với quần áo, tă lót, chăn
mền... thật sang trọng. Và cũng tạo những
điều kiện thuận lợi nhất cho
người mẹ sẽ sinh ra con ḿnh. Chính v́ tưởng rằng
Thiên Chúa trên trời cũng suy nghĩ như ḿnh, nên người
Do Thái thời Đức Giêsu đă tưởng
Đấng Cứu Thế sẽ phải sinh ra trong cung vàng
điện ngọc. Nhưng họ không ngờ Thiên Chúa suy
nghĩ khác hẳn với cách nghĩ của họ!
Theo
Tin Mừng, Đức Giêsu đă sinh ra trong hang ḅ lừa.
Đă là chỗ nuôi và chứa sức vật
đương nhiên phải hôi tanh và bẩn thỉu.
Chắc chắn Giuse và Maria phải hết sức ngỡ
ngàng khi thấy Thiên Chúa đối xử với ḿnh,
nhất là với Đấng Cứu Thế hài nhi như
vậy! Nhục nhă thay cho Đấng Cứu Thế!
Bất kỳ ai biết ḿnh chào đời trong một
chỗ tối tăm và nhục nhă tận cùng như
thế đều không tránh được mặc cảm
cho rằng cuộc đời ḿnh cũng sẽ tối
tăm và nhục nhă như thế!? Trước sự
thật phũ phàng trước mắt, chắc hẳn phải
có lúc hai ông bà nghi ngờ rằng: liệu lời thiên
sứ nói với ḿnh về đứa trẻ ḿnh sinh ra có
thật hay không? Nghi ngờ để rồi lại tự
nhủ, tự an ủi, tự t́m lấy lư do để
cố mà tin cho vững hơn! Thực tế thật
phũ phàng, nhưng đó lại chính là thánh ư của Thiên
Chúa. Muốn cứu thế giới khỏi những nhơ
nhớp của tội lỗi, Con của Ngài cũng
phải nhập thể từ chốn nhơ nhớp
nhất của trần thế! Muốn đưa con
người lên thật cao, Thiên Chúa nhập thể phải
xuống cho thật thấp, thấp đến tận
cùng!
2. Cách
xếp đặt của Thiên Chúa… thật hết sức nghịch
lư!
Thật
là nghịch lư và không thể hiểu nổi cách Thiên Chúa đối
xử với người Con độc nhất và hết
sức yêu quí của Ngài, và với hai người
đặc biệt mà Ngài chọn để hạ sinh,
bảo vệ và nuôi dưỡng người Con ấy!
Giuse và Maria đang sống yên lành tại Nagiarét, những
tưởng đứa con trong bụng nàng sẽ ra
đời tại nhà ḿnh ở làng ấy. Chắc hẳn
chàng và nàng đă mua sắm đồ này vật nọ
để chuẩn bị cho xứng đáng với
chức vị cao cả của đứa bé sắp chào
đời! Nào ngờ chiếu chỉ kiểm tra dân số
của Hoàng Đế Rô-ma đă đảo lộn tất
cả, đă đẩy đôi trai gái đức hạnh -
chỉ biết nghĩ đến thánh ư Thiên Chúa - vào
một cuộc phiêu lưu bất ngờ đầy gian khổ!
Từ
làng Nagiarét vùng Galilê thuộc miền Bắc Do Thái, chàng và
nàng phải vượt qua vùng Samari đầy đồi
núi của miền Trung để về tận làng Bêlem vùng
Giuđê thuộc miền Nam Do Thái. Đường chim bay
đo theo tỷ lệ xích trên bản đồ cũng
phải là 120 cây số, đường ng̣ng ngoèo trong thực
tế hẳn phải trên 150 cây. Thời ấy có lẽ hai
người phải dùng một con la để di
chuyển. Hành tŕnh chắc chắn vất vả! Điều
nghịch lư nhất nằm ở chỗ Thiên Chúa lại
quan pḥng cho ngày phải di chuyển ấy xảy ra khi Maria
mang thai đến thời kỳ sinh nở. Sau một hành
tŕnh vất vả như thế, khi tới nơi những
tưởng Thiên Chúa sẽ dành cho Con của Ngài một chỗ
để sinh nở tương đối xứng
đáng, nhưng khốn thay... tất cả mọi
người mọi nơi đều từ chối!
Nếu hai ông bà có tiền, chắc hẳn không đến
nỗi! Chưa sinh ra, Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể đă
phải đối diện với sự ích kỷ và tính
coi trọng tiền bạc hơn t́nh nghĩa của con
người! Không kiếm được chỗ để
trọ và sinh con, hai ông bà đành trọ và sinh con trong
chuồng súc vật!
Kết
quả của những nghịch lư ấy là ǵ? ai phải
khổ đây? Cả gia đ́nh gồm 3 người Giuse,
Maria và Giêsu là khổ nhất. Phải chăng Thiên Chúa ghét
và muốn đày đọa gia đ́nh này? Chắc chắn
không phải! - Có thể nói đây là gia đ́nh quan trọng
nhất, được Thiên Chúa quan tâm, ưu ái đặc
biệt nhất! V́ thế, nếu đă xảy ra như
vậy - đương nhiên là do sự quan pḥng vô cùng khôn
ngoan của Thiên Chúa - th́ ắt hẳn đây phải là cách
có lợi nhất cho đại cuộc cứu chuộc
nhân loại. Như vậy, v́ đại cuộc, Thiên Chúa buộc
những «người của Ngài» phải hy sinh, phải
chấp nhận nhục nhă, đau khổ hơn những
người khác. Nhưng bù lại, Ngài sẽ ân
thưởng cho «người của Ngài» vinh quang, hạnh
phúc cao quí nhất!
3.
Nghịch lư... nhưng lại rất hợp lư và khôn ngoan
Như
vậy ta thấy Thiên Chúa coi hạnh phúc hay đau khổ,
vinh quang hay nhục nhă chóng qua trong hiện tại không quan
trọng bằng hạnh phúc hay đau khổ, vinh quang hay nhục
nhă lâu dài trong tương lai. Nếu phải chịu
khổ hay chịu nhục một chút trong hiện tại
để rồi được hạnh phúc hay vinh quang lâu
dài trong tương lai, th́ ai khôn ngoan cũng đều
sẵn sàng chấp nhận. C̣n nếu được
hưởng hạnh phúc hay vinh quang thật ngắn
ngủi trong hiện tại để rồi phải
chịu đau khổ và nhục nhă lâu dài trong tương
lai, th́ chỉ có người ngu mới chấp nhận!
Những cha mẹ thật sự yêu thương con cái
sẵn sàng chọn lựa để con cái ḿnh phải
đau khổ hay chịu nhục nhă một chút hầu
về sau chúng được hạnh phúc và vinh quang lâu dài.
Bạn chưa tin ư? Này nhé, giả như bạn
phải chọn lựa cho bạn hoặc cho con cái bạn
giữa ba khả thể sau đây, th́ bạn chọn
khả thể nào: một là đau khổ hiện tại 1
mà hạnh phúc tương lai 10, hai là đau khổ hiện
tại 2 mà hạnh phúc tương lai 100, và ba là đau
khổ hiện tại 3 mà hạnh phúc tương lai 1.000? Chắc
chắn bạn sẽ chọn khả thể thứ ba.
Thiên Chúa cũng chọn lựa cho những người Ngài
đặc biệt yêu thương tương tự như
vậy. Chính v́ thế, Ngài sẵn sàng để Đức
Giêsu, Người Con độc nhất mà Ngài yêu quư
nhất phải chịu đau khổ và nhục nhă ngay
từ khi chào đời đến giây phút cuối cùng
của cuộc đời để cứu chuộc nhân
loại, hầu cuối cùng, trong vĩnh cửu,
Đức Giêsu trở thành người hạnh phúc và vinh
quang nhất không ai sánh bằng!
Nếu
ta biết nh́n bằng con mắt đức tin và khôn ngoan như
thế, th́ việc Đức Giêsu phải chịu đau
khổ và nhục nhă từ khi sinh ra cho đến hết
cuộc đời sẽ trở thành một sự kiện
bảo đảm, một căn cứ để hy
vọng, và một niềm an ủi lớn lao cho ta khi ta
gặp phải những đau khổ lớn lao trong cuộc
đời. Khi Thiên Chúa dành cho chúng ta đau khổ hay nhục
nhă trong hiện tại, th́ điều đó không có nghĩa
là Ngài ghét bỏ ta. Trái lại có thể là Ngài đang dành
cho ta một ưu đăi, một sự yêu thương
đặc biệt mà ta có quyền chấp nhận hay từ
chối. Nếu tự nguyện chấp nhận th́
hạnh phúc và vinh quang của ta sẽ rất lớn, và
lớn thế nào tùy thuộc vào chất lượng
sự tự nguyện của ta và mức độ đau
khổ ta sẵn sàng đón nhận. Nếu từ chối,
ta sẽ bỏ lỡ một cơ hội quí báu mà Thiên Chúa
v́ yêu thương đă dành cho ta, v́ «những đau khổ
chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh
quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta!» (Rm
8,18).
Vậy,
người thường hay kẻ không tin kêu ca về nghịch
cảnh, về đau khổ ḿnh phải chịu th́ không có
ǵ là lạ. Nhưng người Kitô hữu, người
mang danh theo Chúa, người có lư tưởng tông
đồ, người được Chúa chọn, được
mang danh là «người của Ngài», mà lại than văn khi gặp
nghịch cảnh th́ quả là... vẫn c̣n sống theo tính
xác thịt, như thánh Phaolô đă phiền trách: «Tôi không
thể nói với anh em như với những con
người sống theo Thần Khí, nhưng như với
những con người sống theo tính xác thịt, như
với những trẻ nhỏ trong Đức Kitô. Tôi
đă cho anh em uống sữa chứ không cho dùng thức
ăn, v́ anh em chưa chịu nổi. Nhưng bây giờ anh
em cũng vẫn c̣n không chịu nổi, v́ anh em c̣n là
những con người sống theo tính xác thịt» (1Cr
3,1-3).
Cầu nguyện
Lạy
Cha, Đức Giêsu sinh ra thật nhục nhă và sống một
cuộc đời đầy đau khổ, nhưng đă
sống lại trong vinh quang và trở thành Chúa Tể
trời đất. Qua sự việc ấy con mới hiểu
được giá trị của đau khổ. Đúng lư
ra khi gặp đau khổ, nhục nhă, trái ư… con phải vui
mừng v́ biết khi cho phép xảy ra như vậy là Cha
thương con cùng một cách như Cha đă từng
thương Đức Giêsu và bao vị thánh của Cha.
Đúng ra con nên nói «con được đau khổ»
chứ không phải «con bị đau khổ»!
Chuyện
kể rằng, có hai người bạn chia tay nhau đi
t́m điều quí giá nhất trên đời. Họ hẹn
sẽ gặp lại sau khi đă t́m thấy. Người
thứ nhất đi t́m viên ngọc quí. Bất cứ
nơi nào bán đá quí, anh đều t́m đến. Cuối
cùng, anh cũng măn nguyện v́ đă t́m được viên
ngọc quí, anh trở lại quê hương chờ
bạn.
Người
thứ hai đi t́m Chúa. Anh đi khắp nơi thọ giáo các
bậc thánh hiền, cặm cụi đọc sách,
nghiền ngẫm, nhưng vẫn không t́m được Chúa.
Nhiều
năm trôi qua, đang lúc tuyệt vọng, anh nh́n ḍng sông
lững lờ: một đàn vịt con đang bơi
lội tung tăng. Trong khi vịt mẹ t́m con, th́ bày con
lại cứ muốn rời mẹ t́m ăn riêng. Vịt
mẹ chẳng hề tỏ vẻ giận dữ, cứ
lẽo đẽo theo bày con và gom chúng lại. Thấy
cảnh vịt mẹ mải mê t́m con như thế, anh
mỉm cười trở về quê hương.
Khi
người bạn hỏi điều quí mà anh đă t́m
được là ǵ, khiến gương mặt anh
rạng rỡ như thế. Lúc đó, con người trở
về với hai bàn tay trắng, nhưng tâm hồn tràn
ngập niềm vui mới thốt lên: - Điều quí giá
mà tôi đă t́m thấy, đó là trong khi tôi đi t́m Chúa, th́
chính Người đă đi t́m tôi. “Ngôi Lời đă
nhập thể, và cư ngụ giữa chúng ta”. Nhiều
khi chúng ta tưởng ḿnh đi t́m Chúa, nhưng thật
sự là chính Chúa đi t́m chúng ta trước.
Ngay
khi con người sa ngă phạm tội, Thiên Chúa đă lên kế
hoạch cứu chuộc. Ngay khi con người phản
bội bất trung, Thiên Chúa đă mở lối cho họ
quay bước trở về. Ngay khi con người vô
phương cứu lấy chính ḿnh, Thiên Chúa đă sai Con
Một đem thân cứu độ.
Đêm
nay là đêm giao duyên đất trời, đêm hội hoa đăng,
đêm đầy ánh sáng, đêm Thiên Chúa viếng thăm con
người. Đúng như thông điệp chứa chan hy
vọng của tiên tri Isaia: “Một hài nhi đă sinh ra cho
chúng ta và một Người Con đă được ban
tặng cho chúng ta”.
Con
người không thể lên tới Thiên Chúa, nên Thiên Chúa
đă xuống với con người. Chúa xuống trần
gian để cho trần gian biết đường
về trời. Chúa mặc lấy bản tính con
người để cho con người trở nên con cái
Chúa: Thánh Gioan viết: “Những ai tin ở Người th́
Người ban cho quyền được làm con Thiên Chúa”.
Giáng
Sinh là mùa tặng quà: “Đức Giêsu là quà tặng quí giá
nhất Thiên Chúa trao gởi cho con người”. Đến
lượt ḿnh, chúng ta cũng hăy trao tặng cho anh em
những ǵ họ cần thiết nhất, với tất
cả ḷng yêu quí, trân trọng như chúng ta đang dâng
tặng cho chính Hài nhi Giêsu. Những kẻ nhỏ bé
nhất, những người cô độc nhất,
những kẻ chịu nhiều đau khổ nhất
lại chính là những con người cần
được tặng quà nhất. Chúng ta cần chứng
tỏ rằng họ đáng kể đối với chúng
ta, rằng tên họ chiếm một vị trí trong quả
tim chúng ta. Đó chính là quà tặng mà Hài nhi Giêsu đang mong đợi.
Một cách nào đó, khi tặng quà, chúng ta muốn trao ban vô
vị lợi, trao ban không tính toán, trao ban trọn vẹn.
Mẹ Têrêsa Calcutta định nghĩa: “Kitô hữu là
người trao ban chính bản thân ḿnh”.
Trong
sinh hoạt của đời sống thường
nhật, mối tương liên giữa con người
được thể hiện dưới nhiều h́nh
thức khác nhau. Chẳng hạn như lời nói, thư
từ, có khi là một cánh hoa hay là một tặng vật
nào đó. Nhưng tất cả dù thể hiện
dưới bất cứ h́nh thức nào nó cũng
đều có chung một mục đích là diễn tả ư
nghĩa của một sứ điệp mà người gởi
muốn tỏ bày.
Sứ
điệp đó có khi là ước muốn hoà b́nh của
nhân loại trên thế giới gói ghém trong một viên
gạch được lấy từ bức tường ô
nhục Bá linh mà tổng thống Bush của Hoa Kỳ đă
tặng Chủ tịch Gorbachov của Liên Xô trong cuộc
họp thượng đỉnh ngoài khơi đảo
Malta vào dịp Giáng Sinh năm 1989.
Sứ
điệp đó cũng có khi là một lời mời
gọi, một xă hội sống xa ĺa Thiên Chúa hăy trở
về với chính nguồn sự sống như quyển
Tân Ước mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă
tặng nhà lănh đạo Liên Xô, Chủ tịch Gorbachov, cũng
vào mùa Giáng Sinh năm 1989. Quyển Tân Ước có ghi hàng
chữ: "Ta là Đường, là Sự Thật và là
Sự Sống". Đó là tất cả những ǵ mà
Đức Thánh Cha và toàn thể thế giới Công giáo
gởi đến cho một xă hội đă từ lâu
gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.
Trải
qua hai ngàn năm, Thiên Chúa luôn tặng ban món quà vô giá là
Người Con rất yêu dấu của Ngài cho xă hội, gia
đ́nh và mỗi người chúng ta.
* Đối
với xă hội:
Tiên
tri Isaia và Thánh sử Luca cho chúng ta thấy quang cảnh:
Một đoàn dân đang lầm bước trong lầm
than, bao cái ác đè lên cổ dân, bao cái gậy đập
xuống vai họ, bao ngọn roi của bọn hà hiếp,
Thiên Chúa đến để bẻ gẫy trong ngày Con Ngài
chào đời. Người Con đó đă bao phủ vinh
quanh Thiên Chúa trên các mục đồng đang vất
vả thức thâu đêm canh giữ đoàn chiên và tất
cả lớp dân lao động sống trong bóng tối.
Người là thủ lănh của họ và Người
sẽ kiến tạo một xă hội an b́nh trên nền
tảng chính trực, xă hội ấy sẽ tồn tại
măi măi.
* Đối
với gia đ́nh:
Biết
bao gia đ́nh cô đơn, nghèo khó đang mang gánh nặng,
chẳng hạn như trường hợp của
Đức Mẹ và Thánh cả Giuse, mặc dầu nghèo khó
và Đức Mẹ đă tới ngày "măn nguyệt khai
hoa", vẫn sẵng sàng lên đường về
cố hương để khai sổ kiểm tra dân
số theo lệnh của nhà cầm quyền. Nô đơn
đến nỗi cố hương
* Đối
với cá nhân:
Sống
trong một thế giới đầy dẫy những
bất công, chỉ lo t́m hưởng thụ mà lăng quyên
hoặc xa ĺa Thiên Chúa. Sự xuất hiện của Con
Thiên Chúa thật là một món quà tuyệt vời;
Người là cố vấn kỳ diệu, dạy chúng ta
từ bỏ lối sống vô đạo và ham muốn
trần tục, thoát khỏi mọi điều bất
chính, thanh luyện chúng ta tiết độ, công b́nh và nhân
ái ở đời này, nhờ đó chúng ta là dân riêng
của Người. Người là Cha muôn thuở của
chúng ta. Người đă tự hiến chịu chết để
cứu chuộc chúng ta, ban cho chúng ta niềm hoan hỷ. Chúng
ta sẽ hân hoan trước nhan Người, như thiên
hạ hoan hỷ trong mùa gặt bội thu.
Chính
v́ yêu thương, Thiên Chúa đă tặng ban món quà vô giá
ấy cho xă hội, gia đ́nh, và từng người chúng
ta.
Phần
chúng ta, là những người của ngàn năm thứ ba,
chúng ta có thái độ nào khi chiêm ngưỡng Hài Nhi Giêsu trong
hang
Lạy
Chúa, Chúa đă trao ban cho chúng con tất cả, nhưng chúng
con biết lấy ǵ dâng lại cho Chúa và anh em chị em
chúng con? Chúng con xin lấy chính T́nh Yêu của Con Chúa mà chia
sẻ những thống khổ anh chị em chung quanh chúng
con đang gặp phải. Xin cho chúng con biết lấy
Lời Chúa làm quà tặng cho những ai đang đói khát
trong tăm tối tội lỗi, để ánh sáng huy hoàng
Giáng Sinh của Chúa làm cho con tim họ bừng cháy trong an
b́nh và hạnh phúc. Ước chi niềm vui Giáng Sinh ở
cùng chúng con luôn măi. Amen.
Vào
một đêm kia, nhà văn Anh John Ruskin nh́n thấy những
người thợ thắp đèn đường trong
thành phố (lúc đó chưa có điện
đường). Họ phải cầm một ngọn
đuốc sáng trong tay, chạy đi thắp từng
chiếc đèn này qua chiếc đèn khác dọc theo các con
đường.
Trong
đêm tối, Ruskin không thấy được
người thắp đèn, ông chỉ nh́n thấy bó
đuốc của người ấy và một vệt dài ánh
sáng người ấy để lại đằng sau ḿnh.
Qua h́nh ảnh đó, cụ già Ruskin đưa ra một
nhận định hết sưcù thâm thúy : “Đây là
một minh họa tuyệt đẹp về người
Kitô hữu. Có thể người ta chẳng bao giờ
nhận biết người ấy, cũng chẳng bao giờ
gặp anh, nhưng họ đều biết anh ta đă
đi qua thế giới của họ nhờ vào chuỗi
ánh sáng anh để lại phía sau ḿnh”.
Giáng
sinh là một biến cố vô cùng trọng đại,
một trang sử mới của nhân loại, đầy
huyền nhiệm và linh thánh, nối kết giữa
trời và đất, giao ḥa giữa Thiên Chúa và loài người.
V́ Hài Nhi Giêsu chính là ánh sáng rạng ngời, đă chiếu
soi trần gian trong đêm u tối, nguồn ánh sáng của t́nh
yêu, chân lư, và sự sống. Thánh Gioan đă viết : “Ngôi Lời
là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu
soi mọi người”.
Thiên
Chúa là Đấng quyền năng vô hạn, con
người là phận hèn mọn. Thiên Chúa là Đấng
sáng tạo muôn loài, con người là vật thụ tạo
nhỏ nhoi. Trớ trêu thay, loài hay chết lại liều
ḿnh xúc phạm đến Đấng cao cả. Phận tôi
đ̣i lại cả dám ngạo mạn Đấng chí tôn.
Vậy mà, con người tội lỗi chưa kịp lên
tận trời cao để xin tạ tội, th́
Đấng Thánh vô cùng đă vượt lằn ranh vô biên,
đích thân xuống với con người, để tha
thứ, để cứu chuộc và yêu thương họ
hơn cả trước khi con người phạm
tội. Đứng trước đại hồng ân cao cả
ấy, trí khôn con người chỉ c̣n biết bàng hoàng sửng
sốt. Vâng, chính t́nh yêu đă làm nên những điều
kỳ diệu. Thánh Gioan viết : “Thiên Chúa đă yêu thế
gian đến nỗi đă ban Con Một để
những ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải
chết nhưng được sống muôn đời”. Hài
Nhi Giêsu chính là ánh sáng t́nh yêu từ trời xuống, đă
thắp sáng màn đêm tăm tối của trần gian
bằng t́nh yêu cứu thế. Đúng như lời ngôn
sứ Isaia : “Dân đang lần bước giữa tối
tăm đă thấy một ánh sáng huy hoàng; đám
người sống trong vùng bóng tối, nay được
ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.
Mang
thân phận tội lỗi, con người chao đảo
trong biển đời u mê lầm lạc, không biết
đâu là bến bờ, nói chi đến hiểu biết
về Thiên Chúa cao siêu thiện hảo. Chỉ có Hài Nhi Giêsu,
ánh sáng rạng ngời chân lư, mới có thể chiếu tỏa
ánh sáng thần linh của Người vào tâm trí con
người để họ nhận biết Thiên Chúa là Cha
đầy yêu thương. Đó chính là mục đích hàng
đầu của Đức Giêsu khi xuống trần gian. Thánh
Gioan quả quyết : “Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ;
nhưng Con Một là Thiên Chúa, và là Đấng hằng
ở nơi cung ḷng Chúa Cha, chính Người đă tỏ
cho chúng ta biết”.
Từ
nguyên thủy, Ngôi Lời đă sống trong tương quan
độc nhất với con người. Thật vậy,
Người không chỉ là nguồn gốc của muôn loài,
mà sự hiện diện của Người giữa chúng sinh
c̣n tạo nên sự hiệp thông trong sự sống
thần linh.
Aùnh
sáng của Hài Nhi Giêsu khi đem xuống trần gian không
chỉ xóa tan bóng tối của trí khôn, mà c̣n chiếu tỏa
vào linh hồn con người ánh sáng trọn hảo
nhất là chính Thiên Chúa. Người phán : “Tôi là ánh sáng
thế gian, ai theo Tôi, sẽ không phải đi trong bóng
tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban
sự sống”.
Mừng
lễ Giáng sinh chính là cảm tạ Hài Nhi Giêsu đă đem
ánh sáng huy hoàng của Người đến trong trần
gian, trong tâm hồn chúng ta, và trong ḷng mọi người.
Mừng
lễ Giáng sinh chính là bắt chước Gioan, làm chứng
cho ánh sáng : là chiếc đèn soi đường cho thế
gian, là ngọn đuốc chỉ lối cho mọi
người đến cùng Thiên Chúa.
Mừng
lễ Giáng sinh chính là thực thi những điều thiện
hảo, v́ “ai làm điều ác th́ ghét ánh sáng và không
đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm
khỏi bị chê trách”.
Suy Niệm
Máng
cỏ luôn làm cho chúng ta rúng động, v́ đứng trước
máng cỏ là đối diện với một T́nh Yêu,
một T́nh Yêu mở ra bao la bát ngát. Cha đă mở ra
bằng cách sai Con xuống thế làm người. Con đă
mở ra bằng cách vâng phục ư Cha. Thánh Thần đă
mở ra bằng cách tác động nơi ḷng Đức
Trinh Nữ.
Máng
cỏ giúp ta gặp được T́nh Yêu của Ba Ngôi,
T́nh Yêu không lùi bước trước sự khép kín của
nhân loại.
Đến
Bêlem, chúng ta bắt gặp một T́nh Yêu khiêm tốn. Thiên
Chúa đă cúi xuống để tặng trao cho con
người. Con Thiên Chúa làm người sinh nơi hang súc
vật, không một chút hào quang: Ngài sinh ra trong đêm
tối; không một chút quyền lực: Ngài là trẻ
thơ khóc oe oe. Đấng siêu việt nay chịu giới
hạn bởi thời gian. Đấng Tuyệt Đối
lại mang một thân xác hữu hạn.
T́nh
Yêu khiêm tốn không làm chúng ta bị choáng ngợp. không ban
bố một cách cha chú, nhưng biết gơ cửa và
chờ đợi.
Thiên
Chúa giàu sang đă trở nên nghèo để chúng ta được
trở nên giàu có (2Cr 8,9).
Hơn
hai ngàn năm đă trôi qua kể từ khi Ngôi Lời đặt
chân trên trái đất. Ngài đă thắp lên ánh sáng trong bóng đêm.
Ngài chính là Ánh Sáng chiếu soi mọi người (Ga 1,9). Tiếc
thay nhiều người đă chọn bóng tối, v́ bóng
tối dễ chịu hơn, đồng lơa hơn (Ga 3,19).
Bóng tối ở ngoài tôi và bóng tối ở trong tôi.
Ngôi
Lời đă đến nhà của Ngài, nhưng
người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 1,11).
Đức
Giêsu c̣n phải nhập thể cho đến tận
thế.
Truyền
giáo là làm cho Ngài được sinh ra ở đây, hôm nay,
trong ḍng văn hoá truyền thống của dân tộc, trong
những biến chuyển của đất nước
thời mở cửa, trong thế giới đă
bước qua năm 2000.
Sống
mầu nhiệm Nhập Thể là trở nên một Maria khác,
đón nhận Đức Giêsu vào đời ḿnh, cưu mang
Ngài, và sinh Ngài cho thế giới.
Cuộc
sinh hạ nào cũng bắt trắc và đau đớn.
Xin thắp lên một ngọn nến từ Ánh Sáng của
Ngôi Lời. Xin gom lại trăm triệu ngọn nến
để đẩy lui bóng tối trên mặt đất.
Gợi Ư Chia
Sẻ
Ngôi
Lời đă làm người và đă sống ở
đời. Mầu nhiệm Nhập Thể có làm bạn yêu
đời và yêu phận người của bạn hơn
không?
Làm
sao để Chúa Giêsu được sinh ra trong môi trường
bạn đang sống?
Cầu Nguyện
Giữa
giá rét của mùa đông, xin cho con gặp Chúa.
Giữa
những long đong và bấp bênh của phận
người, xin cho con gần Chúa.
Giữa
cảnh nghèo khó và trơ trụi, xin cho con thấy Chúa đi
với con và hiểu con.
Lạy
Chúa Giêsu bé thơ nằm trong máng cỏ, xin cho con cảm
được sự b́nh an của Chúa, ngay giữa
những âu lo hàng ngày.
Xin
cho con đón lấy cuộc đời con với bao
điều không như ư.
Và
cuối cùng, xin cho con dám sống như Chúa v́ Chúa đă dám
sống như con.
V́ sao gọi lễ cử hành hôm nay là
“Đêm Thánh”? Nói cho ngay, về lịch sử, ta không có
cơ sở nào để khẳng định rằng Hài
Nhi Giêsu đă chào đời vào ban đêm. Đành rằng chúng
ta có bản tŕnh thuật kể chuyện các mục đồng
canh giữ súc vật trong đêm tối và họ nghe sứ
điệp từ trời báo tin về cuộc sinh hạ của
Đấng Cứu Thế, nhưng tự nó, bản tŕnh thuật
ấy cũng không phải là bằng chứng cho phép ta kết
luận rằng Đức Giêsu đă sinh ra vào ban đêm. Thế
nhưng, truyền thống Kitô giáo vẫn luôn cho rằng cuộc
chào đời hồng phúc này của Đấng Cứu Thế
đă diễn ra trong một đêm tối. Người Đức
thậm chí hội nhập niềm xác tín ấy vào chín tên gọi
của lễ mừng: Weih-nacht (Đêm Thánh). V́ sao?
Đêm tối, đối với con người,
vẫn có hai khía cạnh. Nó mang một ư nghĩa kép, một
ư nghĩa “hàm hồ”- cũng như hầu hết mọi yếu
tố khác trong cuộc đời này. Đêm tối gợi
lên một cái ǵ thâm u, huyền bí, là thời gian mà không ai có thể
làm việc- như Đức Giêsu nói đến trong Thánh
Kinh. Đêm tối được cảm nhận gần
như là sự chết. Đêm tối là bất định,
bất quyết và hiểm nguy. Đêm tối là trùng khơi
mịt mù. V́ thế, trong cảnh vực tôn giáo, đêm tối
mang đầy ư nghĩa biểu tượng. Trong Thánh Kinh,
đêm tối tượng trưng cho thời gian bất
tín và tội lỗi, thời gian Chúa đến thăm và phán
xét. V́ thế, Kitô hữu phải là con cái của ban ngày, họ
phải chiếu sáng như những v́ sao trong bóng đêm –
để không bị bất ngờ bởi vị thẩm
phán đến th́nh ĺnh như kẻ trộm giữa đêm
khuya. Chúng ta phải tỉnh thức, chúng ta không được
ngủ say, chúng ta phải trỗi dậy và bước
đi như thể đang bước đi giữa ánh sáng
ban ngày.
Nhưng trong cảm nhận của con
người, cũng được hàm chứa trong Thánh
Kinh, đêm tối c̣n có một khía cạnh khác nữa.
Đêm tối là lúc thinh lặng và rút lấy sức mạnh.
Đó là lúc chỉ c̣n ḿnh với ḿnh, sẵn sàng đợi
chờ và cho phép mọi sự triển nở, lớn lên.
Chính vào lúc nửa đêm mà người ta nghe tiếng kêu:
“Ḱa chàng rể đến!”. Đêm tối trong Thánh Kinh c̣n
là thời gian của những giấc mơ hướng vọng
trời cao. Đêm tối là thời gian thoát ly khỏi những
ràng buộc của nhịp sống ban ngày, nên đó là thời
gian cầu nguyện – v́ thế, Đức Giêsu đă trải
qua những đêm trắng cầu nguyện cùng Cha. Đêm
tối được nh́n nhận như công tŕnh của Thiên
Chúa – và tác giả Thánh vịnh có thể thốt lên: “Ngày là
của Chúa, đêm cũng là của Chúa…” (Tv 74,16). Daniel (3,71)
kêu gọi đến bóng đêm chúc tụng Thiên Chúa – và theo
tác giả Thánh vịnh, “đêm này kể lại với
đêm kia” sứ điệp về vinh quang Thiên Chúa (19,3),
cũng như trời xanh mênh mông nhắc cho ta về sự
vĩ đại của Ngài.
Tại sao chúng ta có thể cảm nhận về
đêm tối theo những chiều hướng khác nhau
như thế? Chúng ta kinh nghiệm đêm tối như một
sự bắt đầu, như một cái ǵ đó vẫn c̣n
bất định, nhưng cái đến sau đêm tối
th́ hết sức rơ ràng: đó là một b́nh minh rực rỡ!
Tuy nhiên, sự bắt đầu và những khả năng
ẩn chứa trong sự bắt đầu ấy thường
rất bấp bênh – như một lời hứa nghe thật
hay nhưng chưa được thực hiện, như một
triển vọng to lớn nhưng chưa hiện thực,
như một kế hoạch tuyệt vời nhưng
chưa được triển khai… Tất cả đều
c̣n đó ư nghĩa hàm hồ: vừa đầy hứa hẹn
lại vừa đầy đe doạ, dự phóng sẵn
đó rồi mà mục tiêu c̣n quá xa xôi và không chắc sẽ
có ngày hoàn tất…
… Nhưng nếu có một đêm tối mà
cái khởi điểm vô định lại mang sẵn
trong ḿnh nó sự chắc chắn hoàn thành, nếu có một
đêm tối mang sẵn trong ḿnh nó mối bảo đảm
khải thắng, nếu có một đêm tối mở ra lời
hứa song đồng thời cũng là lời hứa
được lấp đầy … th́ đêm ấy hẳn
phải là Đêm Thánh. Đêm! V́ chỉ mới khởi
đầu thôi. Đêm Thánh! V́ đây là một khởi đầu
hồng phúc và tất thắng. Với một đêm như
thế, chúng ta phải thốt lên: Ôi, Đêm Thiêng! Đêm Thánh!
Như bài ca nào đó đă trở thành bất hủ:
“Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng…”.
Không phải t́nh cờ mà vào thế kỷ thứ
tư, lễ này được đặt vào đúng thời
điểm mà thiên nhiên – cách riêng mặt trời – bắt
đầu lại chu kỳ của nó. Thời ấy,
người ta gán sự bắt đầu của “Mặt
Trời Công Chính” (danh hiệu của Đấng Cứu Độ
chúng ta theo sấm ngôn) cho ngày natalis solis invicti của dân ngoại,
tức lễ mừng sinh nhật “thần mặt trời bất
khuất”.
Một gán ghép vô cùng chính xác! V́ đây là phút
giờ thánh thiêng. Đức tin cho các Kitô hữu biết rằng:
Đây là sự khởi đầu. Thiên Chúa, từ ánh sáng
chói lọi ‘khủng khiếp’ của Ngài, đă đến
với chúng ta – thật lặng lẽ, thật êm dịu. Ngài
đó, Thiên Chúa đó, đă âm thầm bước vào cơi dương
trần khốn khổ của chúng ta. Ngài đă làm người,
và Ngài bắt đầu một kiếp người y
như chúng ta: rất bé nhỏ, rất mong manh, yếu ớt,
bất lực. Ngài là tương lai vô cùng thăm thẳm mà
chúng ta không bao giờ có thể tự ḿnh vươn tới
được – bởi v́, trên con đường gập
ghềnh của cuộc sống ḿnh, ta càng sấn đến,
chân trời ấy càng lùi xa. Nhưng chính Ngài đă đến
với ta, đă đến ở giữa ta – v́ nếu chẳng
vậy, ta sẽ không bao giờ có thể đến
được với Ngài.
Ngài đồng hành với chúng ta trên con
đường chúng ta đi về với Ngài – nhờ
đó, con đường chúng ta đi chắc chắn có một
đích điểm hồng phúc. Kỳ thực, đích
điểm ấy đă hoá nên khởi điểm của
chúng ta rồi. Thiên Chúa đă ở bên ta. Lời ân phúc
vĩnh cửu của Ngài đă ở giữa chúng ta. Lời
ấy gieo bước hành tŕnh với ta, cảm nghiệm
niềm vui nỗi buồn của ta, sống cuộc sống
và chết cái chết của ta. Ngài đă cứu chuộc
ta, bằng con đường san sẻ chính số phận
của ta. Ngài lấy khởi điểm của ta làm khởi
điểm của Ngài. Ngài bước đi trên con
đường định mệnh của ta và – qua đó
– mở định mệnh ấy ra tới tầm vô hạn
của Thiên Chúa. Và bởi v́ Ngài dứt khoát chấp nhận
chúng ta, bởi v́ Ngôi Lời Thiên Chúa sẽ không bao giờ
ngừng là người, nên khởi điểm này – của
ta và của Ngài – là khởi điểm của những lời
hứa không thể xóa nhoà, và sự bắt đầu lặng
lẽ của Ngài trong đêm tối ấy đă làm cho nó trở
thành Đêm Thánh Thiêng!
Cử hành Giáng Sinh là cử hành mầu nhiệm
Đêm Thánh ấy. Con tim chúng ta phải lắng đọng,
thanh thoát, và phải mở rộng ra như quả tim của
một trẻ thơ chưa hề biết khép lại
trước bất cứ khả tính nào của hiện hữu
ḿnh, nhưng hoàn toàn sẵn sàng đón nhận tất cả…
Chúng ta phải dám ôm lấy sự yên lặng
thâm u này vào tận đáy hồn ḿnh bằng cách không chạy
trốn vào công việc làm ăn, vào những cuộc chè chén
hay những câu chuyện gẫu lê thê mà ta dùng để
tránh né chính ḿnh và tránh né mầu nhiệm phủ xuống
trên ḿnh (bởi v́ – do lạ lẫm – chúng ta đâm ra hoảng
sợ trước mầu nhiệm của t́nh yêu vô hạn
ấy). Đêm Thánh là đêm mà cả cuộc sống của
chúng ta cũng trở thành thánh thiêng; chúng ta không được
phép xúc phạm đến Đêm Thánh bằng những cuộc
vui quá đỗi trần tục. Tính cách chân t́nh, giản dị,
hồn nhiên – vốn hoàn toàn phù hợp với Lễ này –
cũng phải giữ cho được sự trong suốt
trước mầu nhiệm khôn tả, mầu nhiệm làm
cho người ta thân t́nh sâu xa với nhau và trao cho họ lời
hứa xuân xanh măi măi.
Lễ Giáng Sinh phải được cử
hành như nó đáng được cử hành, nếu không,
nó sẽ tha hoá thành một lễ hội thuần tuư trần
tục. Trong thinh lặng của Đêm Thánh cô tịch này và
trong ḷng dạt dào cảm mến, chúng ta chấp nhận
rút vào trong đáy ḷng ḿnh tất cả những con người,
những sự vật, những loay hoay căng thẳng vốn
thường dễ che khuất không cho ta nh́n cái vô cùng – chỉ
khi ấy chúng ta mới có thể cử hành Lễ Giáng Sinh
đúng nghĩa. Đôi khi, ít nhất là trong một khoảnh
khắc ngắn ngủi nào đó, người ta dập tắt
những ánh sáng trần tục vốn che khuất không cho phép
ḿnh nh́n thấy sao trời, và người ta đặt ḿnh
trước sự hiện diện kỳ diệu khôn tả
của Thiên Chúa, sự hiện diện “lên lời” bằng
chính cái thinh lặng của nó, và ta chỉ có thể ‘nghe’ được
nếu biết lắng nghe. Chúng ta hăy cảm nhận
như khi một ḿnh bước đi dưới bầu
trời đêm đông đầy sao; Chúng ta vẫn nghe bịn
rịn nhớ nhung hơi ấm của người thân và của
tất cả những ǵ quen thuộc dưới mái nhà
ḿnh, nhưng phía trên đầu chúng ta là bầu trời, và
trong sự yên ắng ấy của màn đêm (sự yên ắng
mà vào những lúc khác có thể làm cho chúng ta kinh sợ), chúng
ta bắt gặp sự hiện diện lặng lẽ của
mầu nhiệm vô cùng: mầu nhiệm hiện hữu của
ḿnh, mầu nhiệm vừa đầy ắp t́nh yêu cứu
độ vừa lớn lao khôn ḍ.
Giáng Sinh là Đêm Thánh! Cái tương lai vô
cùng đă đi vào trong thời gian của chúng ta rồi.
Ánh sáng chói loà của nó vẫn c̣n tràn ngập chúng ta. Và ta
nghĩ chắc hẳn Chúa đă ra đời vào một
đêm tối! Dù ǵ đi nữa th́ đó cũng là đêm, một
đêm hồng phúc, một đêm ngập tràn hơi ấm
và ánh sáng, một đêm rất tuyệt diệu và rất
thực – bởi không ǵ chắc chắn bằng ngày vĩnh
cửu mà đêm này cưu mang trong ḿnh nó. Tuy nhiên, đêm này
chỉ là Đêm Thanh, Đêm Thánh cho chúng ta nếu chúng ta
đón nhận sự yên lặng thánh của đêm này vào
trong trái tim ḿnh, nếu trái tim chúng ta thức tỉnh.
Sự yên lặng và cô tịch ấy nào quá
gay go! Cái khó, nếu có, là cái khó chung của mọi điều
cao cả: nó vừa thật đơn giản vừa rất
lớn lao! Không khó, v́ dĩ nhiên cái cô tịch vốn nằm
sẵn trong ta. Trong trái tim ta vốn có một vùng sâu kín của
riêng ḿnh, một vùng mà không ai có thể ḍ dẫm tới ngoại
trừ Thiên Chúa. Nơi sâu thẳm ấy thực có đó. Vấn
đề là chúng ta ngu ngơ sợ hăi và tránh né nó – ta sợ,
v́ không ai và không ǵ quen thuộc trên đời này có thể
đi theo ḿnh nếu ḿnh bước chân vào vùng đất ấy!
Nào, đừng sợ nữa, hăy lặng lẽ bước
vào và đóng cửa lại phía sau ḿnh. Hăy lắng nghe giai
điệu vô ngôn vang lên trong yên ắng của màn đêm cô
tịch.
Ở đó, linh hồn ta tấu lên với
Thiên Chúa khúc ca trầm lắng nhất và nồng nàn nhất.
Và ta tin chắc rằng Ngài đang nghe ḿnh rất rơ. V́ khúc
ca ấy không c̣n phải kiếm t́m đến một Thiên
Chúa trên trùng khơi thăm thẳm chẳng thể nào ḍ tới
được. Chúa đă giáng sinh rồi, Ngôi Lời đă
trở thành xác phàm, nên Ngài đang ở ngay đây – và lời
nói thầm th́ nhất trong đáy ḷng ta, lời nói tỏ
t́nh, sẽ được Ngài lắng nghe rất rơ. Và những
ai đă bước vào trong cơi cô tịch của ḷng ḿnh
như thế, ngay cả dù tối tăm thăm thẳm, nhất
định sẽ nghe được tiếng thầm th́
yêu thương của Ngài. Nào, đừng sợ đêm tối
nữa, và hăy lắng hồn xuống. Nếu không, chúng ta sẽ
chẳng nghe ǵ. V́ tiếng nói cuối cùng chỉ cất lên
trong sự yên lặng của đêm tối – đêm tối
đời ta – qua sự xuất hiện hồng phúc của
Ngôi Lời. Ngài đă đến rồi đây.
Đêm Thánh vô cùng…
Giây phút tưng bừng…
ĐƯỜNG
VỀ BÊLEM (Lc 2, 1-7)
Trong
đế quốc Rôma có những cuộc kiểm tra dân số
định kỳ nhằm hai mục đích: vừa
để đánh thuế, vừa để t́m ra những
ai đang ở tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Dân Do Thái
được miễn nghĩa vụ quân sự, v́ thế
việc kiểm tra dân số ở xứ
Con
đường từ Nagiarét tới Bêlem dài 128 dặm, những
tiện nghi cho khách trọ rất sơ sài. Quán trọ bên phương
đông thời bấy giờ giống như từng dăy
chuồng ngựa có cửa mở ra một cái sân chung.
Mỗi khách trọ tự liệu thức ăn cho ḿnh,
chủ quán chỉ cung cấp đồ ăn cho súc vật
và một bếp lửa để nấu nướng. Có
đông người quá nên không c̣n chỗ cho Giuse và Maria,
thế nên con trai của Maria đă sinh ra nơi khoảng
sân chung đó. Khăn bọc hài nhi là một cái tă. Trước
tiên người ta bọc hài nhi trong tấm vải vuông
rồi quấn băng dài chung quanh ḿnh nhiều ṿng. Chữ
được dịch là máng cỏ, nơi để súc
vật ăn, có thể đó là một chuồng ḅ hoặc
một máng cỏ. Việc quán trọ không c̣n chỗ
tượng trưng cho những ǵ xảy ra cho Chúa Giêsu.
Chỉ một nơi có chỗ cho Chúa Giêsu là thập giá.
Ngài t́m một lối vào trong những tấm ḷng chật
chội của loài người mà không t́m được,
và Ngài vẫn cứ tiếp tục t́m kiếm, mặc dù
vẫn cứ bị chối bỏ.
MỤC
ĐỒNG VÀ THIÊN SỨ (Lc 2, 8-20)
Một
điều lạ lùng là câu chuyện cho chúng ta biết bao
lời báo tin đầu tiên của Chúa được
gửi đến cho các người chăn chiên. Vào
thời bấy giờ, giới mục đồng bị
những người chính thống coi khinh. Họ không có
đủ khả năng để giữ trọn các chi
tiết của bộ luật nghi lễ, họ không
thể giữ đúng các nghi thức rửa tay tỉ
mỉ và các luật lệ khác. Họ quá bận bịu
săn sóc bầy chiên, v́ thế, giới chính thống coi họ
rất thấp kém. Sứ điệp của Chúa trước
tiên đă đến với họ là những người
đơn sơ nơi đồng ruộng. Nhưng nhóm
mục đồng này có lẽ là những mục
đồng đặc biệt. Trong Đền Thờ, sáng
và chiều đều có một con chiên không t́ vết làm của
lễ dâng lên Chúa. Để lúc nào cũng sẵn có của
lễ toàn vẹn và không t́ vết ấy, các quan chức cai
quản Đền Thờ nuôi riêng những bầy chiên
của họ, và các bầy chiên này được chăn
ở gần Bêlem. Cho nên chúng ta có thể tin là nhóm mục
đồng đó đang coi giữ những bầy chiên dành
làm của lễ trong Đền Thờ. Thật ư nghĩa
biết bao khi nhóm người coi sóc bầy chiên của
Đền Thờ lại là những người đầu
tiên được ngắm xem chiên của Thiên Chúa là Đấng
xóa tội lỗi thế gian.
Chúng
ta đă biết khi một bé trai được sinh ra th́
các nhạc sĩ địa phương tụ tập
lại nhà để chúc mừng bằng một khúc
nhạc đơn sơ. Chúa Giêsu đă sinh trong một chuồng
ḅ ở Bêlem, v́ thế chi tiết đă không
được thực hiện. Thật vô cùng ư nghĩa khi
đoàn ca sĩ trên trời thay thế các ca sĩ dưới
đất và các thiên sứ đă hát những bản ca
ngợi Chúa Giêsu là những bản nhạc mà các ca sĩ
trần gian không hát nổi.
Qua
những lời Kinh Thánh này, chúng ta phải suy tưởng đến
vẻ đơn sơ thanh bạch trong sự giáng sinh
của Con Thiên Chúa. Chúng ta dễ nghĩ rằng nếu Con
Thiên Chúa ra đời, th́ chắc Ngài sẽ sinh ra trong
một đền đài hay một dinh thự. Ngày xưa,
ở Châu Âu, có một ông vua thường khiến triều
thần lo ngại v́ ông hay cải trang để trà
trộn vào dân chúng. Khi quần thần yêu cầu ông
đừng làm thế v́ lư do an ninh, th́ ông trả lời
“Trẫm không thể trị dân nếu trẫm không biết
nhân dân ta có một Thiên Chúa hiểu thấu đời
sống chúng ta, v́ Ngài đă sống cuộc đời
như chúng ta, không đ̣i hỏi ǵ khác hơn một
đời sống b́nh thường”.
SINH HẠ, CẮT
B̀ VÀ ĐẶT TÊN
CHO TRẺ GIÊSU (Lc
2, 1-20)
Từ
đây bản văn sẽ phá vỡ tiến tŕnh song song. Thực
vậy, có hai khác biệt lớn lao giữa cảnh này và
cảnh trước. Đối với Người Con
của Đức Maria, Luca nêu bật trước hết cảnh
sinh ra, trong khi việc cắt b́ và đặt tên ông chỉ nhắc
đến rất vắn tắt (c.21), điều này
ngược với trường hợp của Gioan.
Phần khác, một mặc khải đi liền theo sau
việc cắt b́ của vị tiền hô; nhưng việc
tuyên sấm của ông Giacaria không có tầm vóc rộng
lớn như cảnh sinh ra của Chúa Giêsu được
gọi là Phúc Âm, Tin Mừng (c.10). Và nhất là, đối
với Chúa Giêsu, cảnh mặc khải theo nghĩa chặt
sẽ được chuyển đến cảnh tiếp
theo trong Đền Thờ.
Các
câu 1-7 tŕnh bày việc kiểm tra dân số, hành tŕnh của
cha mẹ rồi việc sinh con trai đầu ḷng. Sắc
chỉ của Xêda Augustô gây khó khăn về phương
diện lịch sử. Đúng là Quirinô đă cho tiến
hành kiểm tra dân số xứ Giuđêa khi tỉnh này
thuộc quyền cai trị trực tiếp của Rôma;
điều đó đă gây ra cuộc nổi loạn
của Giuđa người Galilê (Cv 5,37: có Giuđa
người Galilê nổi lên vào thời kiểm tra dân
số, và lôi cuốn dân đi với ḿnh; cả ông này
cũng bị diệt, và tất cả những
người theo ông ta đều bị tan tác). Nhưng vào khoảng
năm 6 hoặc 7 SCN, lúc đó Chúa Giêsu đă chừng mười
tuổi rồi –Người sinh ra dưới triều
Hêrôđê (Lc 1,5; Mt 2,1), ông này băng hà vào năm 4 TCN. Như
vậy Luca đă lầm khi, trong bài khởi đầu long
trọng này, muốn đăng kư Chúa Giêsu vào lịch
sử thế giới– ông sẽ làm lại một cách đầy
đủ hơn ở 3, 1-2 và cũng tỏ bày cho thấy
Thiên Chúa sử dụng sắc chỉ của Xêda. Trong sách
Công Vụ, Thiên Chúa c̣n sử dụng các luật lệ La Mă
để dẫn dắt Phaolô đến rao giảng Tin
Mừng ở Rôma… nhất là điều đó đă là
một cái cớ cho cuộc hành tŕnh, là một cái cớ
bởi v́ những cuộc kiểm tra như thế luôn luôn
làm ở nơi thường trú chứ không làm ở nguyên
quán.
Thực
ra nhờ truyền thống (x. Mt 2,1) Luca biết rằng
con trẻ sinh ra ở Bêlem, thành của Đavít, địa
điểm này cho phép nhấn mạnh một lần
nữa rằng Chúa Giêsu là con cháu (c.4) Đavít. Tuy nhiên, Luca
không trích dẫn sấm ngôn của Mk 5,1 (x. Mt 2,6); thực
vậy rất hiếm thấy những trích dẫn rơ ràng
ở Luca 1-2. Thực vậy, đích điểm của
cuộc hành tŕnh không phải chỉ là Bêlem mà chính là một
máng cỏ trong thành này. Pḥng trọ chật chội
đến nỗi phải đặt em bé sơ sinh nằm
trong máng cỏ, diễn ngữ này được dùng tới
ba lần (c. 7.12.16) và điều ấy muốn nói rằng
đó là kết quả của sáng kiến của Thiên Chúa.
Mà có nơi nào ư nghĩa hơn đối với các mục
tử cho bằng máng cỏ? Như vậy là chúng ta được
quy hướng tới mấy chú mục tử này.
Luca
lại dùng một lần nữa công thức thần
học: “(những) ngày bà phải sinh con đă tới (hoàn
tất)”, ông nói đến con trai đầu ḷng để
chuẩn bị cho việc dâng con trong Đền Thờ
(2,23).
Bây
giờ đến cảnh mặc khải cho các mục
tử (cc. 8-14). Tại sao những người làm một
nghề như thế lại được đón nhận
mặc khải này? Hẳn là có một liên hệ văn
chương giữa thành Bêlem và đề tài mục
tử: Khi ấy Đavít chăn đàn súc vật của
cha ông ở Bêlem (1Sm 16,11; 17,15), nhưng Luca không nói rơ về
chuyện ấy, điều ông quan tâm nhiều hơn đó
là các mục tử ở Palestin vẫn bị mang tiếng
xấu, người ta thường coi họ là những
kẻ bất lương và trộm cắp. Sách Tamud Babylon
đă xếp họ vào một nhóm những người bị
coi là kẻ tội lỗi: “Những mục tử và
những người thu thuế th́ khó mà sám hối
được”. Những người bị khinh dể
ở cấp bậc thấp nhất trong xă hội lại
là những người đầu tiên được nói đến
nhờ việc đản sinh của một em bé có mẹ
là một người khiêm hạ (1,48) và sẽ mang Tin
Mừng đến cho những người nghèo (4,18). “Tác
động hướng về máng cỏ là dấu chỉ
cho những người chăn chiên tội lỗi nhận
ra được Đấng Cứu Tinh đă đến
(B. Trémel); con trẻ sơ sinh đă là người sẽ
đón tiếp những kẻ tội lỗi và sẽ
ăn uống đồng bàn với họ (15,2)
Mặc
khải đích thực (cc. 9-12) có nhiều yếu tố
nhắc nhở những tŕnh thuật về việc báo tin
cho ông Giacaria và cho Đức Maria, chỉ có các vấn
nạn là được bỏ đi. Sứ thần của
Thiên Chúa thay thế cho thiên sứ Gabriel, việc đản
sinh Chúa Giêsu được gọi là Tin Mừng, việc
ấy sẽ tạo ra một niềm vui lớn: Ba
tước hiệu được dành cho trẻ sơ sinh
là: Hôm nay, Đấng Cứu Tinh là Đấng Kitô
Đức Chúa đă sinh ra cho các ngươi, là những
người nghèo và dân tộc bé nhỏ. Ba tước
hiệu đều đến từ lời tuyên xưng
niềm phục sinh của Giáo Hội, hai tước
hiệu cuối ở môi trường Do Thái, tước hiệu
thứ nhất ở môi trường lương dân
để đi đôi với việc tôn thờ hoàng
đế Xêdarê như vị cứu tinh. Như vậy,
lời loan giảng của Giáo Hội mà Phêrô và Phaolô sẽ
thực hiện sau này đă được mặc khải
cho các mục tử.
Dấu
chỉ –có ở đây như ở trong hai tŕnh thuật báo
tin, nhưng các người chăn chiên không đ̣i hỏi–
th́ rất trái ngược với tước hiệu Kitô
học: điều đó cho phép những ai t́m dấu
chỉ ấy sẽ gặp Hài Nhi mới sinh
được bọc khăn, Hài Nhi ấy được
đặt trong một máng cỏ chứ không phải là trong
một chiếc nôi ở một đền đài
đế vương nào đó. Độc giả có thể
ngạc nhiên trước sự kiện dấu chỉ không
có ǵ kỳ diệu. Trong khi Israel có thể chờ
đợi Đấng Mêsia sinh ra với những dấu
chỉ gây ngạc nhiên (x. ngôi sao dẫn đường các
đạo sĩ ở Mt 2,2-9), dấu chỉ ở đây
thích hợp với Đấng sẽ là vị Mêsia khiêm
tốn và đau khổ của những kẻ nghèo, dấu
chỉ ấy đặc biệt am hợp với những
người chăn chiên.
Bấy
giờ có tiếng khen ngợi của một nhóm đông vô kể
của các thiên sứ (cc. 13-14) hợp với vị thiên
sứ vừa tuyên bố Tin Mừng; bài thánh thi ngắn
gọn mời các mục tử và các độc giả
nhận ra quyền năng của Thiên Chúa, Đấng, qua việc
đản sinh của Người Con Đức Maria,
sẽ đem lại b́nh an, yên ổn, ḥa hợp và thịnh
vượng cho dân là đối tượng của ḷng nhân
hậu Ngài. Không đặt vấn đề thiện tâm mà
con người có hay không để đón nhận hồng
ân của Thiên Chúa.
Cảnh
diễn ra trong các câu 8-14 tập trung vào những vị sứ
giả từ trời: loan báo Tin Mừng và lời ngợi
khen có tính cách phụng vụ. Tin Mừng từ Thiên Chúa
được thông báo cho các mục tử trước khi
họ loan truyền cho dân. Như ở phần
trước, những chi tiết hữu h́nh mắt
thấy được bị hạn chế tối đa.
Cho
tới lúc đó, các mục tử ở trong tư thế
thụ động; họ không c̣n thụ động
nữa trong cảnh tiếp theo, nơi đó thuật lại
ba phản ứng (cc. 15-20): phản ứng của các
mục tử, phản ứng của những người
nghe họ kể lại và cuối cùng là phản ứng
của Đức Maria. Các mục tử thấy những
sự việc như thiên thần đă loan báo và loan
truyền lại sứ điệp của thiên thần; khi
nghe họ dân chúng ngạc nhiên – như bà con của ông
Giacaria (1,63), như cha mẹ của Chúa Giêsu (2,23). Câu 20 c̣n
nói rơ hơn về các mục tử: sau khi từ máng cỏ
trở về, họ làm nhiệm vụ của các thiên
sứ là ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa (xcc. 13-14). Về
phần Đức Maria, Người nổi bật v́ thái
độ đón nhận (câu 19 trong đó dội lại câu
51 chương 2). Từ sứ thần Gabriel, Người
đă biết rằng con ḿnh sẽ là Đấng Mêsia
thuộc ḍng tộc Đavít, là Con Thiên Chúa và là Đức
Chúa; từ các mục tử đă được sứ
thần loan báo, Người biết rằng con ḿnh là
Đấng Cứu Tinh. Nhưng một cách cụ thể
các tước hiệu này có ư nghĩa ǵ? Nếu Đức
Maria suy nghĩ về tất cả những điều
đó trong ḷng, chính là v́ Người chưa hiểu hết
ư nghĩa như chương 2 câu 50 xác minh.
Câu
20 là chuyển tiếp qua cảnh sau: như đối
với người con của ông Giacaria và bà Êlisabét,
đặt tên dường như quan trọng hơn nghi
thức cắt b́; cả hai trường hợp
đều có sự vâng theo lời sứ thần Gabriel.
Cảnh đặt tên là đối tượng của
một khai triển dài đối với vị tiền hô,
nhưng ở đây lại không phải như vậy.
ĐỨC GIÊSU
SINH RA Ở BÊLEM
VÀ THIÊN THẦN BÁO
TIN CHO CÁC MỤC ĐỒNG
(Lc 2,1-14)
VÀI
ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Bóng tối
của một sự ra đời...
Trong
phần mở đầu của tác phẩm ḿnh, thánh
sử Luca không muốn làm công việc của một sử
gia - lẽ tất nhiên không theo nghĩa hiện đại
của từ ấy - nhưng như một nhà thần
học đặc biệt nhạy cảm với lịch
sử cứu độ.
Thánh
sử muốn đưa việc Đức Giêsu sinh ra vào
lịch sử chung, bằng cách nối kết sự giáng
sinh của Người với "sắc lệnh của
hoàng đế Augustô ra lệnh kiểm tra dân số trong khắp
cả thiên hạ." J. Potin suy diễn thêm: "ở
-
V́ muốn nhấn mạnh sự nối tiếp của
lịch sử cứu độ và lịch sử ấy hoàn
tất với Đức Kitô, nên Luca đề cập
đến ḍng dơi Đavid của Đức Giêsu:
Bỏ
Nadarét ở Galilê, Giuse đi về Bêlem "thành của Đavid"
để khai hộ khẩu, bởi lẽ ông thuộc nhà
và ḍng dôi Đaviđ”.
Chính
tại Bêlem “ Maria vợ ông đang có thai” sẽ hạ sinh con
trẻ. Biến cố được diễn tả cách
giản dị lạ thường. Trong chuyến đi
về Bêlem, tuy đóng vai tṛ quyết định, nhưng Giuse
tự xoá mờ trước Maria. Mẹ mới là
người quan trọng: Ngài sinh con đầu ḷng, bọc
trong tă và đặt nằm trong máng cỏ " ( cảnh
này gợi lên cảnh đặt vào mồ: Lc 23,53 họ lấy
khăn liệm bọc Ngài và đặt vào mồ), v́ không
có chỗ cho họ trong "pḥng tập thể”: (sau này
chúng ta sẽ gặp lại "pḥng tập thể"
trong Luca, đó là pḥng tiệc ly: Lc 22,11).
2. Sẽ soi sáng
mọi đêm tối".
Trái
với sự thanh vắng, bóng tối và sự nghèo nàn của
cảnh ra đời, này đây "trong vùng lân cận”,
đêm tối rạng ngời và tiếng hát vang dội, nói
lên ư nghĩa của biến cố vừa mới hoàn thành:
trời và đất gặp nhau, những người đầu
tiên được lănh nhận ơn mạc khải là
những người hèn mọn nhất của thời
đại: các mục đồng, một lớp
người trong xă hội bị khinh chê nhất,
được xếp với hạng người tội
lỗi và bọn thu thuế. H.Cousin giải thích: "ở
Palestin, chăn chiên là lớp người mang tiếng
xấu, thường được người ta coi là bọn
bất lương và trộm cắp. Sách Talmud ở Babylone
xếp họ vào hạng người đáng chú ư: dân
mục tử, bọn thu thuế, thật khó mà ăn
năn trở lại". những người bị khinh
chê và được xếp vào bậc thang cuối cùng
của xă hội lại là những người đầu
tiên được đoái đến bởi Đấng
vừa sinh ra, con của một người mẹ "hèn
hạ " (Lc 1,48: phận nữ tỳ hèn mọn); chính Ngài
sẽ đem Tin Mừng cho người nghèo khó (4, 18). Đấng
vừa sinh ra là Đấng để cho người
tội lỗi đến với ḿnh và đồng bàn
với họ " (15, 2) ("Tin Mừng thánh Luca",
Centurion tr. 38-39).
-
Sứ điệp mà "các thiên thần của Chúa"
mang đến cho họ là một "Tin Mừng"
(Evangile), một niềm vui lớn. Tin vui ấy là tin vui cho
"Toàn dân”. Sứ điệp ấy liên can tới sự giáng
sinh của một hài nhi, nơi Người các tước
hiệu: "Đấng cứu độ",
"Đấng Mêsia ", "Chúa " đạt
được sự viên măn bởi lẽ chính Ngài là
sự mạc khải sống động về ḷng nhân từ
của Thiên Chúa. "Đấng cứu độ ",
"Đấng Mêsia” (Kitô), "Chúa”, ba tước vị
phát xuất từ việc Giáo Hội tuyên xưng đức
tin phục sinh, mà chúng ta sẽ thấy trên môi miệng của
Phêrô (Cv 2,36...) và của Phaolô (Cv 13,33...).
-
"dấu chỉ" cho các mục tử vùng Bêlem:
một trẻ sơ sinh, “bọc tă nằm trong máng có",
để nói ṿi những ai biết đón nhận rằng
Thiên Chúa ban ơn cứu độ như người
đă hứa theo cách thế không ai ngờ tới. R.Meynet
dẫn giải: “Kẻ trước hết sẽ nên sau hết.
Con người được coi là Đấng Cứu độ,
là Vua, là Đấng Mêsia và được thừa kế
ngai vàng Đavid tổ phụ Người, lại nằm
trong máng cỏ của súc vật, bọc tă, nằm trong cái
nôi tạm bợ, cũng như sau này, Người sẽ được
bọc trong khăn liệm và nằm trong ngôi mộ không phải
dành cho ḿnh. Dù mâu thuẫn, đó vẫn là dấu chỉ cho
các mục tử và cho Kitô hữu của mọi thời.
Dấu chứng cho sự cao sang của Thiên Chúa lại là
sự nhỏ bé, và cho quyền năng của Người
lại là sự hèn yếu ("Tin Mừng theo thánh Gioan:
phân tích tu từ học", Cerf, tr. 36).
-
Lời tạ ơn “đột nhiên" vang lên. Trên
trời, biến cố được diễn tả
với chiều kích rộng lớn và trong bầu khí trang trọng.
Cùng lúc, dưới đất, là cuộc tổng kiểm
tra dân số của Augustô: với thiên sứ, một cơ
binh trên trời đông vô số ngợi khen Thiên Chúa
rằng: Sáng danh Thiên Chúa trên các tầng trời, b́nh an
dưới thế cho người Chúa thương. Cả trời
đất đều mừng vui: kỷ nguyên cứu
rỗi đă mở đầu Thiên Chúa, Đấng lấy
việc ban hồng ân làm vinh quang, sẽ đổ xuống
trên dân Ngài sự "b́nh an" mà Ngài đă hứa trong ngày
cứu độ: không phải sự đảm bảo
vật chất của nền "hoà b́nh Rô-ma" Mà Con
người chờ đợi ở Augustô, nhưng là sự
tràn đầy sự sống là chỉ ḿnh Ngài có thể ban
cho. Trong đêm tối, trở về với cảnh thanh
vắng, từ cánh đồng quê Bêlem, mục tử lên
đường để xem sự việc đă xảy
ra? Họ t́m thấy Maria, Giuse và Hài nhi mới sinh nằm
trong máng cỏ. Sau đó, họ trở về và ca ngợi
tạ ơn về những ǵ họ đă thấy và đă
nghe, họ là gương mẫu cho các nhà truyền giáo mà
thánh Luca sẽ tŕnh bày trong cuốn sách thứ hai: Sách Công
Vụ Tông Đồ.
BÀI ĐỌC THÊM
1. Từ Bêlem
đến Phục Sinh”
(A.George, trong "Assemblées du
Seigneur", số 10, tr. 6f' 67).
"Thánh Luca muốn diễn
tả một sự kiện diễn ra tại Bêlem thời
César Augustô mà ông đă nghe kể và hiểu theo truyền thống
của Giáo Hội. Ông chú ư đến sự kiện này
như một biến cố rơ ràng, xảy ra ở một
nơi nhất định, nhưng ông tỏ ra không mấy
chú ư đến các chi tiết. Điều đáng ông lưu
ư trong sự kiện này là ư nghĩa của lịch sở
cứu độ. Đó chính là tính hiện tại của
ơn cứu độ. Nó diễn ra trong suốt cuộc đời
của Đức Giêsu, từ Bêlem đến Phục sinh.
Khi ông định nghĩa Đức Giêsu như
Đấng cứu chuộc, như Kitô Đức Chúa, ông
không muốn nói những ǵ người ta đă hiểu về
Đức Giêsu ngày Ngài sinh ra, nhưng Ngài vẫn là như thế
cho đến muôn đời. Khi ông kể lại câu chuyện
các mục tử, ông nghĩ đến tất cả
những ai đă rao truyền sứ điệp thời các
tông đồ, nghĩ đến tất cả những ai
đă đón nhận sứ điệp ấy. V́ thế
ngày nay, câu chuyện đó liên quan đến chúng ta. Đối
với ông, mầu nhiệm kết hợp cách bất
khả phân ly với lịch sử. Ông tin rằng ơn
cứu rỗi đă được ban trong biến cố Đức
Giêsu. Và v́ thế ông đă viết cuốn sách này.
Đức tin của ông, cũng
như của chúng ta, không chỉ dựa trên câu chuyện
ấy. Đức tin ấy phát xuất từ việc
biết Đức Giêsu trong tất cả mầu nhiệm
của Ngài, trong nhân cách huyền nhiệm được
mặc khải dần dà, trong sứ điệp cứu rỗi
muôn đời, trong việc Ngài luôn toả sáng. Bởi
lẽ sự mặc khải về Đức Giêsu là
một sự kiện duy nhất đă xảy ra trong thời
Đức Giêsu và kéo dài cho đến chúng ta, thời
của Giáo Hội. Mỗi người chúng ta đều
được mời gọi đưa ra một chọn
lựa trước sự kiện này. Quyết định
như thế thật khó khăn v́ nó đ̣i chúng ta phải
hoàn toàn dấn thân. Sự quyết định đó cũng
không bao giờ hoàn tất, bởi v́ Đức Kitô
vượt xa hơn bất kỳ ai khác, nên sự hiểu
biết về Người là một khám phá của tất
cả cuộc đời.
Câu chuyện giáng sinh ở Bêlem
chỉ có ư nghĩa đối với những ai đă
nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu độ,
là Kitô Đức Chúa. Sự Giáng Sinh làm lộ rơ
điều nghịch lư nơi con người giàu: sự
nghèo hèn song hành với vinh quang. Điều nghịch lư này
làm cho người Do Thái thời Ngài cũng như mọi
người chưng hửng: một bên là sự trần
trụi của một Hài nhi yếu ớt, từ lúc
mới sinh đă phải tùng phục sắc lệnh của
một hoàng đế ngoại giáo, và trong cảnh xa nhà,
chỉ được một người mẹ tứ
cố vô thân, một bác thợ mộc và mấy người
chăn chiên tiếp đón... bên kia là sự xuất
hiện của cả một đạo binh ngời sáng
trên trời, vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện và lời tung hô
Đấng Cứu thế, Kitô Đức Chúa. Sự gặp
nhau giữa nỗi khốn cùng của loài người và
vinh quang của Thiên Chúa chính là sự kiện Thiên Chúa
đến trong lịch sử chúng ta: một sựï
hiệp thông với cả nhân loại, để dấy lên
niềm hy vọng, một sự hiện diện trong t́nh
yêu cho đến muôn đời.
Cuộc gặp gỡ này không
chỉ diễn ra trong mầu nhiệm của đêm Giáng
Sinh mà c̣n kéo dài trong tất cả cuộc đời Đức
Giêsu, từ những phép lạ và thử thách của
cuộc sống trần gian cho đến vinh quang phục
sinh, toàn thắng mà thế gian không biết đến.
Suốt ḍng thời gian, sự hiện diện của Thiên
Chúa giữa nhân loại chính là Giáo Hội. Giáo Hội này tuy
c̣n đầy dấy sự yếu hèn của chúng ta
nhưng lại là nguồn mạch ơn cứu độ
muôn đời của Thiên Chúa. Trong Giáo Hội, trong chúng ta,
cũng như trong đêm Giáng Sinh và Phục sinh, "chính
trong sự yếu hèn mà quyền năng được
toả lan " ( 2 C r 12, 9 ) .
2.
"Đă 2000 năm"
(Mgr. F.Favreau trong "Mùa Vọng
năm 2000", Documents " épiscopat, số 14, tháng 10, 1 996).
(Tạm dịch)
Hai ngàn năm đă trôi qua,
Giêsu, Chúa đă sinh ra giữa
đời.
Kỷ niệm bất diệt
đầy vơi,
Mừng cùng Giáo Hôi khắp nơi,
vũ hoàn.
Niềm vui cảm tạ tri ân,
Chúa đă thăm viếng cơi
trần chúng con.
Lời xưa Chúa hứa vẫn
c̣n:
Ở cùng nhân loại chúng con
mỗi ngày.
Chúng con cảm nghiệm giờ
đây,
Chúa đang hiện diện
mọi ngày đời con
Ban ơn trông cậy trường
tồn,
Một niềm phó thác, con luôn
vững bền.
Trên vùng Đất Hứa nửa
đêm,
Chúa đến mặc khải êm
đềm t́nh Cha.
Chúa yêu ta, chết v́ ta.
Chúa ơi! Xin dẫn con và anh em
Vào
trong nguồn suối êm đềm
Của
t́nh yêu Chúa ở trên cơi đời.
T́nh
Cha bí mật tuyệt vời
Chính
là ơn gọi con nơi thế trần.
Tibêriat
dừng chân,
Tám
mối phúc, Chúa ân cần dạy con.
Biến
con thành sử giả luôn
Loan
truyền mối phúc cho muôn muôn người.
Thánh
Thần xin gởi đầy vơi,
Trên
Hội Thánh Chúa ở nơi thế trần:
Ngài
ban sức mạnh hồng ân
Giúp
con lướt thắng tinh thần cứng tin.
Dắt
con vững bước đăng tŕnh,
Anh
em, đến với mối t́nh tri âm.
Biến
con thành thợ Phúc Âm.
NGÔI LỜI ĐĂ
TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM
VÀ CƯ NGỤ
GIỮA CHÚNG TA
(Ga 1,1-18)
VÀI
ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Lời Tựa
là một Thánh Thi.
Matthêu
mở đầu tin Mừng bằng "Gia phả của
Đức Giêsu Kitô, Con vua Đavít, con Aùpraham”. Luca th́
bắt đầu "tŕnh thuật về những
biến cố đă diễn ra giữa chúng ta " (1,1) bằng
cách tŕnh bày gẫy gọn một ít giai thoại về
đời thơ ấu của Đức Giêsu: những
giai thoại này vừa giới thiệu vừa tiên báo
về cuộc đời Chúa. Máccô (như ta đă
đọc ở Chúa nhật thứ II Mùa Vọng)
đặt cho tác phẩm của Ông một tựa đề
đầy ư nghĩa: “Khởi đầu Tin Mừng
Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”.
Về
phần Gioan, ông bắt đầu Tin Mừng bằng
một Lời Tựa dưới dạng Thánh Thi, mà
nhiều nhà chú giải nghĩ rằng thánh thi này đă
được hát trong cộng đoàn của Gioan, trước
khi được đặt vào đầu cuốn Tin
Mừng. Cũng giống như khúc mở đầu
một bản hoà tấu - hay đúng hơn như đoạn
kết, thánh thi này nối kết các đề tài thành
một bản tóm tắt đầy sức mạnh.
Alain
Marchadour giải thích: "Để mở đầu cho
Tin Mừng của ḿnh. Gioan đă chọn một thánh thi.
Lời mở đầu này như khúc dạo đầu
một bản nhạc, lần lượt kể ra
những đề tài lớn của Tin Mừng và nói
đến nguồn gốc cũng như nguyên thủy
của Đức Giêsu mà Tin Mừng sẽ tường thuật
cuộc đời của Ngài khi Ngài sống giữa loài người.
Lúc khởi đầu Ngài là Ngôi Lời, thường t́nh
thân thiết với Thiên Chúa đến nỗi thi sĩ
quả quyết rằng ngôi là Thiên Chúa. Vai tṛ của
người vượt khỏi ranh giới dân Israel
bởi v́ Người là Đấng tạo thành, là Sự
Sống, là Aùnh Sáng cho mọi người sinh ra nơi trần
thế. Biến cố nhập thể đánh dấu
việc Ngôi Lời xâm nhập lịch sử, cuộc
gặp gở định mệnh với loài người
và với dân Do Thái, người th́ từ chối, kẻ
th́ đón nhận. Những người đón nhận là
cộng đoàn Kitô hữu. Thánh thi này long trọng kể ra
cuộc hành tŕnh của Ngôi Lời, từ lúc ở với
Thiên Chúa (câu 1-2), rồi đến giũa loài người
(3-5), chọn dân
2. Ca ngợi
cuộc hành tŕnh của Ngôi Lời Thiên Chúa
Chúng
ta hăy theo dơi sự triển khai từng phần một.
Nguồn
gốc bí nhiệm của Đức Giêsu, Ngôi Lời sáng tạo:
+
Hai từ đầu tiên “Khởi đầu" liên
kết việc Đức Giêsu xuống trần với
những chương đầu sách Sáng Thế, như thế
phải đọc về Đức Giêsu từ giây phút
đầu của mạc khải: xuyên suốt Tin Mừng,
Người được giới thiệu "như
điểm hoàn tất của tất cả mạc
khải, như Đấng mạc khải tối cao, như
ân huệ tối hậu của Thiên Chúa, như con
đường duy nhất dẫn tới ơn cứu
độ, và như khuôn mặt của Thiên Chúa giữa loài
người" (A.Marchadour, Sđd, trang 34).
+
Trước hết, thánh thi nói đến "Ngôi Lời
Thiên Chúa" (danh hiệu của riêng Gioan trong Tân
ước) trong hiện hữu vĩnh cửu, t́nh nghĩa
thiết muôn đời với Chúa Cha nhưng khác biệt
với Cha: và thiên tính của Người: "Ngôi Lời vẫn
hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa”.
Sau
đó thánh thi công bố tính phổ quát của công cuộc tạo
thành do Đấng là Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa:
"Nhờ người vạn vật được
tạo thành, và không có Người th́ chẳng có ǵ
được tạo thành”. Đồng thời,
Người trao ban sự sống cho vạn vật,
Người đem họ vào cuộc sống.
Ngôi
Lời của Thiên Chúa, Aùnh Sáng và Sự Sống loài
người.
Ở
gần Thiên Chúa và là Thiên Chúa, Ngôi Lời từ nguyên
thuỷ đă sống trong tương quan độc
nhất với con người: Người
không
chỉ là Đấng tạo thành, Người c̣n là “Sự
Sống" và “Ánh Sáng”. Người không chỉ là nguồn
gốc của mọi sinh vật, nhưng sự hiện
diện của Người ở giữa chúng sinh c̣n tạo
nên sự hiệp thông với sự sống siêu nhiên.
Người cũng là Aùnh Sáng: Không phải là ánh sáng vũ
trụ, mà là ánh sáng thần linh và siêu phàm, hướng
dẫn con người.
-
Chứng tá của Gioan Tẩy Giả.
Trái
ngược với vẻ trịnh trọng trong nhưng
câu đầu của Lời Tựa, giờ đây Gioan
Tẩy Giả bước lên sân khấu: "Có một
Người…”
Sự
Sáng đến thế gian đă có một nhân chứng
đi trước, đó là Gioan, con ông Giacaria. Vẻ cao
cả của con người này là ông được Thiên
Chúa sai đến, và ông đă đón nhận sứ mệnh
làm chứng cho Aùnh Sáng: với tư cách là Tiền hô, ông
hướng dẫn người ta đến với
đức tin, tin vào Đấng là Aùnh Sáng, là Đấng phải
chiếm được tất cả địa vị:
"ông không phải là Aùnh Sáng, nhưng ông đến
để làm chứng về ánh sáng”.
-
Aùnh Sáng đă đến trong thế gian.
+
Nhưng khi Aùnh Sáng đến thế gian th́ con người
lại từ chối và chống đối. Thế gian mà
Ngôi Lời đă tạo thành lại khước từ Aùnh
Sáng, thật là trớ trêu! (vấp phạm): Người ở
giữa thế gian, và thế gian đă nhờ Người
mà có, nhưng lại không nhận biết Người”.
C̣n
trớ trêu hơn nữa, là "gia nhân của
Người”, dân của Lời hứa, dân của Giao
ước, "đă không đón nhận Người”.
+
"C̣n những ai đón nhận Người - dù là dân
-
Ngôi Lời đă trở nên người phàm.
+
Gioan đă viết "người phàm”, theo đúng chữ
là "trở nên xác thịt”; từ "xác thịt"
ở đây không có nghĩa đối nghịch với linh
hồn, nhưng có ư nói con người dưới chiều
kích mỏng gịn, dễ hư nát.
+
"Người cư ngụ giữa chúng ta" ( theo
đúng chữ: Người cắm lều của
Người giữa chúng ta): độc giả của Gioan
đọc cụm từ này liền nghĩ ngay đến
"nơi ở" của Thiên Chúa ở giữa dân
Người. Sự hiện diện của Đức Chúa
ở giữa dân Người, được tượng
trưng bằng Lều giao ước trong sa mạc,
thời Xuất Hành, rồi bằng Đền thờ
Giêrusalem, giờ đây thể hiện cách hoàn hảo
nơi Đức Giêsu trở nên người phàm: (Ga 2,19-22:
"Chúa nói về Đền thờ thân xác
Người").
+
"Chúng tôi được nh́n thấy vinh quang của
người" trong con người Giêsu, cộng đoàn
của Gioan quả quyết rằng họ được
nh́n thấy vinh quang của Thiên Chúa, nghĩa là: một
phẩm chất, một vầng hào quang mạc khải Thiên
Chúa.
-
Đức Giêsu Kitô đă mạc khải Thiên Chúa vô h́nh.
"Thiên
Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả, nhưng Con Một
vốn là Thiên Chúa và là Đấng vốn hằng ở
nơi cung ḷng Chúa Cha, chính Người đă tỏ cho chúng
ta biết”.
Jean
Perron nhận xét: "Bài Thánh Thi đă khởi đầu từ
Ngôi Lời ở nơi cung ḷng Chúa Cha cũng kết thúc bằng
tư tưởng "Con Một ở nơi cung ḷng Chúa
Cha": đó chính là ḍng chảy cuộc sống của
Đức Giêsu, cũng giống như sẽ nhắc
lại ở câu kết vào cuối đời Người:
"Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp
trở về cùng Thiên Chúa" (Ga 13,3). Nhưng trong
"tiến tŕnh đi lên cùng Đấng duy nhất
cần nhận biết (không ai đă nh́n thấy Thiên Chúa,
ngay cả đến Môsê ), Người muốn đem ta
đi cùng: "Để Thầy ở đâu, anh em cũng
ở đó" (14,3). Và c̣n hơn thế nữa, trong
cuộc sống thân mật mà Người đă dẫn ta
vào: "Ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lời
Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy.
Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong
người ấy" (14,23)" ("Lire de Bible",
số 52, trang 34-35).
BÀI
ĐỌC THÊM.
1.
Một câu không có "động từ " th́ không có
nghĩa
("Bible
du Dimanche" trang 51 1-512).
(Trong
tiếng Pháp, "verbe" vừa nghĩa là động
từ, vừa là Lời: một cách chơi chữ ở
đây.)
"Và
Ngôi Lời đă trở nên người phàm”. Một từ
ngữ, nhẹ hơn một làn khói, làm sao có thể
nắm bắt được?
Thiên
Chúa đă không sử dụng thuật pháp của tử ngữ,
mà đă nói qua một trẻ thơ được bọc
trong tă nơi máng cỏ và c̣n chưa biết nói, đă nói
qua một tử tội không c̣n có thể nói
được nằm trên thập giá. Người nói trong
yếu đuối và thinh lặng. Sự thinh lặng hùng
biện từ nay đă chứng minh cho mọi người
rằng Thiên Chúa không im lặng. Lời của Người
không c̣n là một chuỗi tiếng nói mà đă trở nên người
phàm.
Từ
khi con người trông đợi Thiên Chúa, họ cảm nghiệm
sự xa vắng của Người hơn là
được hưởng sự hiện diện của
Người: "Không ai đă được thấy Thiên
Chúa'? Điều đó không ngăn cản họ nói
nhiều về Người, tuy Người vẫn vắng
bông và xa lạ. Họ nói mà không cần nhờ đến những
bậc hiền triết, Môsê, Lề Luật, và ngay cả
đến Gioan Tẩy Giả hoặc các nhà thông thái. Dù dùng
rất nhiều từ cũng không thể có sức
thuyết phục bằng một lời nói. Bởi vậy
trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa không ngừng nói
"Lời cuối cùng” của Người.
Chỉ
có Lời ("động từ") này mới làm cho câu
có ư nghĩa. Nhờ Người mà những chuỗi từ
của con người mới t́m được sự
mạch lạc Người không loan báo những chân lư phụ
thuộc, nhưng chính Người là Chân lư; Người soi
sáng những sai lầm nơi chúng ta v́ chỉ có
Người là Aùnh Sáng.
Tuy
nhiên, chỉ có Aùnh sáng mới khơi dậy bóng tối. Chỉ
có chân lư mới làm thương tổn. Bởi vậy,
số phận của Lời này là bị chống
đối và đôi khi bị khai trừ. Nhưng cũng
chính v́ vậy mà Lời Chúa đánh động chúng ta và
trờ nên hiển nhiên trước mắt chúng ta".
2. Vài câu
Kinh Thánh tóm tắt hoàn hảo cả công tŕnh Thiên Chúa đă
thực hiện thể cứu-độ nhân loại.
(L. Sintas trong "Parole de diệu
pour la méditation ét l'homélte -Năm C", Médiaspaul. trang 20-2).
Mấy câu Gioan dùng để
bắt đầu Tin Mừng là những câu nổi
trọng nhất trong truyền thống b́nh dân của
tội Thánh. Cách đây không lâu, mọi thánh lễ
đều kết thúc bàng bản văn này. Trong, các giáo
xứ ở Pháp, khi cha mẹ lo lắng về con cái
đến xin linh mục cầu nguyện cho chúng, th́
họ đưa chúng đến nhà thờ, và linh mục
thường đọc những câu Tin Mừng này, trong khi
đặt dây stola trên đầu chúng. Đó không chỉ do
ḷng sùng mộ của một vài người, mà là một
thói quen phổ biến trong quần chúng Kitô giáo. Việc
chọn những câu Tin Mừng này thật ra rất chính
đáng. Bởi v́ những câu này là như bản tóm
lược tất cả công tŕnh mà Thiên Chúa đă thực
hiện để cứu độ nhân loại.
- Khởi đầu là xác
quyết long trọng về bản tính của Đức Giêsu,
Lời của Thiên Chúa. Do Lời, Thiên Chúa tạo dựng vũ
trụ. Thiên Chúa phán... và sự vật liền có. Nhờ
người vạn vật được tạo thành, và
không có Người th́ chẳng có ǵ được tạo
thành”. Gioan đă cả quyết rằng lúc tạo dựng,
dù bóng tối dày đặc, cũng không thể cản
được ánh sáng tạo dựng. Aùnh sáng đă xô
đẩy và quét sạch bóng tối để ngự trị.
Trái với quyền lực
mạnh mẽ lúc ban đầu của Lời Thiên Chúa,
bỗng chốc Lời đó trở nên bất lực.
"Ngôi Lời là sự sáng thật. Người ở
giữa thế gian và thế gian đă nhờ Người mà
có, nhưng thế gian lại không nhận biết
Người”. Đó là xác quyết về mầu nhiệm
Nhập Thể. Lời của Thiên Chúa, Lời tạo
thành, đă đến ở giữa phàm nhân. Nhưng bóng tối
dày đặc đă ngăn cản ánh sáng nên thế gian
không đón nhận ánh sáng. Ngay khi xác định việc
Thiên Chúa Nhập thể, th́ cũng cho thấy sức
mạnh của tự do con người. Tự do ấy có
thể khiến họ khước từ ánh sáng. Tội
lỗi là một chướng ngại ngăn cản con
người đến với Thiên Chúa, chướng
ngại mà chính Thiên Chúa cũng không. thể vượt qua
nếu con người không đồng ư.
Con Thiên Chúa "đă đến
nơi nhà Người và gia nhân Người không đón
nhận Người”. Đó là số phận của Người
mới đến giữa nhân loại. Từ khi trốn
sang Ai Cập, cho đến cuộc khổ nạn,
chết trên thập giá, Người từ Thiên Chúa mới đến
này bị anh em đồng loại của ḿnh ruồng
bắt, nghi ngờ, tố cáo, xét xử và hành quyết.
Đó là công việc của ư muốn con người khi ư
muốn ấy bị chi phối bởi đam mê xác thịt,
đam mê trần thế và tính khát máu. Chúng ta gọi tên nó là
tội. Khi phạm tội, người ta t́m thoả măn ư
riêng ḿnh, thay v́ t́m ư Chúa và vinh quang của Người.
Như vậy, qui ngă là dấu cho thấy con người có
thể gây cho Thiên Chúa những đau khổ tệ hại
nhất, nỗi nhục nhằn kinh khủng nhất.
Tuy nhiên, Lời Thiên Chúa sẽ
chiến thắng. Chiến thắng không do áp chế con
người nhưng nhờ sự hoán cải trong tâm
hồn. "Nhưng những ai đón nhận Người,
những kẻ tin vào danh Người, th́ Người cho
họ quyền trở nên Con Thiên Chúa”.
Một bức hoạ diễn
tả thảm kịch của nhân loại đă được
vẽ lên. Nó họa lai sự cao cả của Thiên Chúa,
Đấng Sáng tạo và ơn cứu độ danh cho
những người thiện tâm. Là nạn nhân của tính
tự măn, loài người không thể nào nhận biết Con
Thiên Chúa nên đă đóng đinh Người trên thập
giá. Chính thập giá lại trở nên cửa mở vào
sự sống lại cho những ai chấp nhận
đóng đinh tính tự măn của ḿnh trong cuộc
sống hằng ngày, bằng tự nguyện từ bỏ
v́ đức tin. Lúc đó ánh sáng sẽ phủ ngợp con
người họ".
3. Tổng hợp sống động
giữa hai quy tŕnh xem là trái ngược ("Célébrer"
số 264, trang 41-42).
Có thể coi phần thứ
nhất (1-14) là lịch sử của Ngôi Lời; người
ta dùng ngôi thứ ba để nói về Ngài: “Người”,
“trong Người”, "nhờ người". Qua
việc dùng các động từ khác nhau, người ta
lần lượt kể ra mối tương quan của
Ngôi Lời với Thiên Chúa, vai tṛ của Người trong
công cuộc tạo dựng, hoạt động của
Người ở trần gian, và việc Người đến
trong lịch sử nhân loại.
Cách tŕnh bày này có lẽ do thánh thi
ở sách Châm Ngôn đoạn 8 và sách Ben Sira đoạn 24
gợi ư. Ở hai sách này, Khôn Ngoan tự thuật về
đời ḿnh: được Thiên Chúa tạo dựng, Khôn
Ngoan gợi ư cho Thiên Chúa trong việc tạo dựng, Khôn
Ngoan đi lại với con người, chất vấn con
người và sau vậy sự Khôn ngoan được nhân
cách hoá này là ǵ? Có lẽ phải hiểu là kế hoạch
mà Thiên Chúa có ở trong trí khi tạo dựng vũ trụ.
Ngay từ đầu, Người biết rằng một ngày
kia Người sẽ mạc khải ḿnh trọn vẹn
để đem hạnh phúc đến cho loài
người. Kế hoạch này đă có sẵn trong mọi
công tŕnh của Người, mọi sự đều nói
lên ư nghĩa do Người đặt định; mọi
tạo vật nói về Người, ai cũng có thể
nhận biết Người và giao tiếp với Thiên
Chúa...
- Đọc phần thứ hai
của Lời Tựa, ta cảm thấy ḿnh ở trong
một bối cảnh hoàn toàn khác: ba lần dùng danh xưng
"chúng tôi" để chỉ cộng đoàn các môn
đệ, ba câu vang lên như tiếng reo mừng, biểu
lộ một cảm nghiệm ưu tuyển, mà ta cũng
thấy ở thời Gioan, chương 1: "Điều
vẫn có ngay từ lúc thời đầu, điều mà
chúng tôi đă nghe...? Lần này không c̣n nói về điều
ở trên trời, nhưng nói về cuộc gặp gỡ lịch
sử, cự thể với Đức Giêsu Nagiarét, một
cảm nghiệm không thể quên, được kêu lên trong
niềm kinh ngạc và xúc động: phải, chúng tôi
đă nh́n thấy vinh quang của Chúa Cha, phải, chúng tôi
đă nh́n thấy sự sống chiến thắng sự chết,
phải chúng tôi đă nh́n thấy bóng tối không ngăn
cản được ánh sáng. Từ cuộc gặp gỡ
lịch sử này, chúng ta đi ngược lên tới
tận nguồn gốc của Ngôi Lời. Như vậy
Lời Tựa đă tổng hợp hai quy tŕnh xem ra trái
ngược nhau một cách sống động: giải
thích tổng quát lịch sử và cảm nghiệm độc
nhất vào một thời điểm nhất định.
Bởi vậy, Ngôi Lời đă trở nên người
phàm, có nghĩa cụ thể là: ư định mà Thiên Chúa có
khi tạo thành vũ trụ đă được tỏ
lộ qua sự kiện Nhập Thể - đó là dấu
chỉ mà Người nhắn gởi đến nhân
loại qua mọi thành phần trong vũ trụ, qua sự
gắn bó chặt chẽ của mọi vật trong
trời đất, qua Giao ước tạo lập nên
một dân tộc tất cả những điều đó
giờ đây đă h́nh thành và mang khuôn mặt của
Đức Giêsu Nagiarét, Lời duy nhất của Chúa Cha, và
từ nay mọi người hoàn thành số phận
của ḿnh bằng cách trở nên giống Chúa Con".
Lc
2, 1-14
Noel là một cuốn sách
đẹp chứa đầy h́nh ảnh dân gian. Chúng ta hăy
ghi giữ h́nh ảnh đó, lúc nào cũng tươi xinh trước
mắt chúng ta. Nhưng rơ ràng là Luca mời gọi ta hưởng
tới một “chiêm niệm" nội tâm hơn: Tŕnh
thuật của ông là một “nhập đề"
thần học dẫn vào Tin Mừng của ông, một Tin
Mùng chỉ có thể nắm bắt trọn vẹn nhờ
Đức tin.
Thời ấy, hoàng đế Xêda Augustô ra
chiếu chỉ truyền kiểm tra dân số trong khắp
cả thiên hạ.
Xêda Augustô là hoàng đế nổi
tiếng nhất của Rôma (từ năm 30 trước
Chúa Giêsu Kitô đến năm 14 sau CGK) . Vào năm 27, ông
đă để cho Nghị viện phong cho ḿnh tước hiệu:
Thần Auguttô, tiếng Hỳ Lạp là "Sebastos", có nghĩa
“xứng đáng được tôn thờ". Khi sử
dụng tước hiệu diệu kỳ của một
ông "vua trần gian" như trên, Luca muốn minh chứng
cách tương phản rằng, Thiên Chúa xử sự khác biết
bao: Người sẽ hạ sinh như một trẻ
thơ gịn mỏng, thuộc lớp ngườøi di cư
đáng thương.
Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên
được thực hiện hồi ông Quiriniô làm
tổng trấn xứ Xyria.
Nếu bức tranh của lễ
Noel đầu tiên này khá mờ tối.
Xứ sở th́ bị xâm
chiếm. Dân cư th́ lệ thuộc dưới ách thống
trị của một quyền lực ngoại bang. Nhờ
lịch sử ngoại giáo, ta biết rằng, cuộc
kiểm tra của Quiriniô này, đă khiến dân nổi
dậy, vào năm 6, trong thời kỳ cai trị thứ
hai, do việc kiểm tra tài sản ruộng đất và
công tŕnh xây cất của dân chúng... để đánh
thuế? ít năm sau, Đức Giêsu cũng phải đương
đầu với viên tổng trấn khác, Phongxiô Philatô.
Ai nấy đều phải về nguyên
quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse từ thành
Nagiarét, miền Galilê, lên miền Giuđê".
Giuse để cho các biến
cố hướng dẫn ḿnh. Thế giới mà Đức
Giêsu bước vào là một thế giới khó khăn,
đầy những g̣ bó (Noel không đẹp chút nào).
Nhưng "Thiên Chúa thường viết thẳng trên
những đường cong của chúng ta" . Và
những biến cố là "những ông thầy mà Thiên
Chúa tự tay trao cho chúng ta" (Pascal). Tôi có xác tín rằng, Thiên
Chúa vẫn có đó, đang hạch hỏi tôi, trong tất
cả những ǵ đang diễn tiến, trong tất
cả những ǵ đang xảy đến với tôi không?
ông lên đường cùng với một người
nữ đang mang thai.
Lên thành của Đavít, gọi là Bêlem, v́
ông cũng thuộc gia tộc của Đavít.
Luca "giải thích" biến
cố dưới ánh sáng của lời sấm Mikha (5,1-4)
Đấng sẽ sinh ra là "cứu Chúa” mà "một thiếu
nữ Sion phải hạ sinh”, "trong một làng bé
nhỏ nhất miền Giuđê", giữa những
người nghèo khổ, thuộc "số nhỏ c̣n lại"...
trong "thành của Đavít". Nhưng thực tế,
vị cứu Chúa này lại hoàn toàn khác với những
điều người ta mong đợi Người ta
mong chờ Người phải là Đấng quyền
năng, giàu sang, mạnh mẽ! Thế mà Người
lại đến trong tư thế bất lực, nghèo
khó, yếu di... Thiên Chúa nhận thấy, những người
đạo đức lầm lẫn về Người
khiến Người đă phải bước vào trong
thế giới "kín mật", một cách bất
hợp pháp. Người đă vượt lậu qua ranh
giới chúng ta. Không khi nào "những nhà hữu trách"
chịu chấp nhận Người, nếu Người
nói rơ danh tánh ḿnh? Người ta không thể có ư
tưởng về một Thiên Chúa lại chịu xuất
hiện qua vẻ bề ngoài tầm thường như thế,
không màng đến những đặc quyền của
ḿnh, chịu hoàn toàn thiếu thốn những ǵ xứng
hợp với Thiên Chúa, xem ra coi thường những nghi
lễ uy nghi mà tôn giáo thiết lập để tôn vinh ḿnh!
Nếu tất cả những
điều đó không đáng kể với Thiên Chúa, vậy
th́ cái ǵ đáng kể đối với Người.
Ông lên đó khai tên cùng với vợ ḿnh là
bà Maria, lúc ấy đang có thai.
Bản văn Hy Lạp viết:
"Với hôn thê của ḿnh là Maria, lúc ấy đang có
thai". Ở đây Luca muốn sử dụng cùng một
từ như lúc diễn tả cảnh Truyền tin (Lc 1,27).
Dù đă hứa hẹn với nhau cách chính thức nhưng
Giuse và Maria không sống chung đụng với nhau Maria
vẫn là "trinh nữ” Vậy mà, cô lại "có
thai"! Tại sao ta lại cứ giấu Thiên Chúa
đến giới nức của ḿnh thôi? Ta đă lầm
lẫn về Thiên Chúa, v́ tưởng rằng Thiên Chúa
cũng chỉ có khả năng như chúng ta. Lạy Chúa,
với đức tin, con muốn tôn thờ quyền
năng sáng tạo của Chúa, qua tư cách làm mẹ phi
thường trên, làm mẹ mà vẫn c̣n trinh khiết
chỉ ḿnh Thiên Chúa là "Cha" của em bé thơ mà Maria,
vị hôn thê đang mang thai.
Khi hai người ở đó, th́ bà Maria
đă đến ngày măn nguyện khai hoa. Bà sinh con trai
đầu ḷng.
Tŕnh thuật trên tŕnh bày thật
là quá giản dị! Khác hẳn với những ǵ đă mô
tả trong các truyện thần thoại và cổ tích.
Đó là một bé thơ như bất cư một bé
thơ nào khác, không chút hào quang lượn quanh đầu,
hoàn toàn đơn sơ và trần trụi!
Thiên Chúa phán: Ta đă tạo thành
các ngươi theo “h́nh ảnh Ta" các người là
những người cha, người mẹ, các người
biết yêu con cái ḿnh cách diệu kỳ, chăm sóc nâng niu
chúng, 'đỡ nâng chiếc đầu bé bỏng mong manh của
chúng, cẩn thận kiểm tra nhiệt độ của
bầu sữa, ŕnh xem từng nụ cười... Vậy
các ngươi không nhận ra Ta cũng giống các
ngươi sao? Nhờ những cử chỉ mẫu
tử của riêng ḿnh, các bà mẹ một phần nào
cũng nhận ra Ta là ai...
Bà lấy tă bọc con, rồi đặt
nằm trong máng cỏ, v́ hai ông bà không t́m được
chỗ trong quán trọ.
Bị tràn ngập bơi những
lượng thông tin ly kỳ xa lạ cảm kích mà
phương tiện thông tin đại chúng đổ trên
chúng ta, liệu chúng ta c̣n đủ khả năng
để "nhận ra" cái tầm thường Thiên
Chúa đă chọn lựa để hiện diện không?
Biến cố vĩ đại nhất của lịch
sử nhân loại vừa mới xảy ra " Từ
giờ trở đi", Thiên Chúa cũng là một con
người, Đức Giêsu? Từ giây phút đó, Thiên Chúa
đă liên kết số phận đời Người
với số phận chúng ta . Duyên cớ đời ta
đă trở nên duyên cớ của Người. Thiên Chúa
ở "củng chúng ta". Chúng ta được phép hy
vọng tất cả. Những biến cố này không gây cảm
giác bề ngoài. Thiên Chúa nằm "trong máng cỏ",
hiện diện trong một "hang" ḅ lừa, dụng
cụ giúp cho đoàn vật ăn uống. Thiên Chúa đó
thật là dễ gây ngỡ ngàng! Thiên Chúa đó thật là
dễ gây cảm kích! Khi đứng trước thái
độ tự phụ của Auguttô? Ta c̣n phải thêm
rằng, Thiên Chúa không làm bộ tỏ ra yếu
đuối. Trên lớp rạ rơm nới hang đá,
cũng như trên khúc gỗ của thập giá,
Người đă mạc khải cho ta những ǵ là thâm sâu
nhất, đích thực nhất trong Người, trong Thiên
Chúa. Ai thấy tôi là thấy Cha". (Ga 149). Thiên Chúa là t́nh yêu.
Và t́nh yêu trở nên yếu ớt trước kẻ mà
Người yêu mến. Ai thống trị, th́ không yêu
thương!
Trong vùng ấy, có những người
chăn chiên thức đêm ngoài trời canh giữ đàn
vật.
Không phải là biểu
tượng cho nét đẹp thôn dă và thiên nhiên, như
thường con vật, vẽ nặn trong dịp Noel
muốn làm cho ta tưởng như thế, thực sự
những "người chăn chiên", trong quan niệm
thời đó, là biểu tượng cho những người
bị khinh bỉ. Nghề nghiệp của họ khiến
thiên hạ dễ coi thường. Họ được
kể như loại người sống "ngoài luật
pháp”. Người ta coi họ như những tên
cướp giật, sống bằng những của cướp
bóc. Họ không được quyền dân sự để
làm chứng theo lẽ công bằng. Được kể
như những người ngu dốt, họ không có
giờ để tham dự những buổi giáo lư mà các nhân
trí thức thường truyền đạt trong các
hội đường. Được xếp vào loại
người ô nhơ, nên nghề nghiệp của họ
cản trở họ tôn trọng việc nghỉ ngơi
ngày Sa-bát thánh thiện! Và rồi là người không
sạch, họ cảm thấy ḿnh không hay ho ǵ, chỉ là
hạng "quê mùa"!
Thế mà, họ lại là
những người được Thiên Chúa tuyển chọn
đầu tiên! Thiên Chúa yêu thương những kẻ
"bé mọn", những người "nghèo
khổ" những loại người mà kẻ khác thường
khinh bỉ. Đó sẽ là một trong những đề
tài của Tin Mừng Luca, Xin tạ ơn Chúa!
Bỗng sứ thần Chúa hiện ra
đứng bên họ, và vinh quang của Chúa bao trùm chung
quanh.
Vẻ “huyền diệu” chỉ
khởi sự từ đây trong tŕnh thuật này. Nhà
thần học có thể cảnh giác. Hăy ư tứ! Coi
chừng! Kiểu nói này là một diễn tả thôi,
bởi v́ các cộng đồng đă xác định thiên
thần không có thân xác. C̣n nhà thi sĩ và những người
b́nh dân lại nói: các sứ thần đó giúp ta biết
ngỡ ngàng trước cảnh thần thiêng, những ǵ
vượt quá con người ḿnh .
Nhưng ư nghĩa của sự
kiện gợi lên khá rơ: cho đến lúc này, trong toàn
bộ Kinh thánh. "Vinh quang" là dấu chỉ sự hiện
diện của Thiên Chúa, chỉ dành riêng nơi Đền
thờ Giêrusalem. Nhưng từ nay trở đi, Vinh quang này
bao trùm những người nghèo. "Những ǵ anh em làm
cho kẻ bé mọn nhất, tức là anh em đang làm cho
Thầy” (Mt 25).
Một Thiên Chúa hành xử như
thế, thật là ngạc nhiên! thật là cảm kích! Xin
tạ ơn Chúa.
Họ kinh khiếp hăi hùng. Nhưng sứ
thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi
báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng
là tin mừng cho toàn dân”.
Chúng ta vẫn thương nói, ta
chưa bao giờ nghe được tiếng nói của
Thiên Thần. Họ không hề gây tiếng động. “Tiếng
nói" của họ là im lặng. Hăy lắng nghe! Hăy
để ư lắng nghe! Nhất là đừng có ồn ào.
Mọi "Truyền đạt" của Thiên Chúa
đều là "Tin Mừng tin vui". Đây c̣n là một
đề tài của Luca nữa. Và tin vui này mang một
tầm cỡ "phổ quát” cho tất cả mọi
người. Đó là một đề tài khác của Luca.
Hôm nay, Đấng cứu độ anh em
đă ra đời trong thành vua Đavít, Người là
Đấng Kitô, là Đức Chúa.
Các sứ thần không nhiều
lời. Lời "truyền đạt" của họ
rất ngắn gọn. Lời thông báo đó đi ngay vào
điểm cốt yếu. Họ công bố "giấy
chứng minh" đích thực của hài nhi chưa ai biết
tiếng, với ba tước hiệu của Thiên Chúa: 1.
Đấng Cứu độ: sotér 2. Đấng Kitô:
Christos 3. Cứu Chúa? Kurios.
Luca sẽ không khi nào sử
dụng những tước hiệu đó nữa trong Tin
Mừng của ông, trước khi kết thúc cuốn sách. Thiên
Chúa phán, hăy để ư, Giêsu bé nhỏ này, hôm nay không quan
trọng ǵ, nhưng chính Người sẽ là Đức Chúa
vinh quang phục sinh. Những đoạn Tin Mừng
thời thơ ấu đều được Luca
diễn tả như một mở đầu dẫn vào
cuốn sách này, mà ta chỉ thực sự hiểu
dược vào lúc kết thúc. Hài nhi vừa sinh hạ có
một bản tính Thiên Chúa (Người là Đức Chúa)
và mang một sứ vụ thần thiêng (Người là
Đấng cứu độ) Tính cách "Cứu Chúa"
này chưa tỏ hiện. Hăy chờ xem!
Anh em cứ dấu này mà nhận ra
Người: "Anh em sẽ gặp thấy một
trẻ sơ sinh bọc tă, nằm trong máng cỏ".
Điều mà sứ thần báo
hiệu như dấu chỉ để nhận ra Đấng
Cứu độ: đó là sự "nghèo khó" và
"yếu đuối"! Hăy ngừng chạy, hăy
đến trước máng cỏ. Biết đâu bạn
lại không khám phá ra ở đó một biểu
tượng bí ẩn nào? Dù sao Thiên Chúa đang hiến ḿnh
tại đó cách thực sự để làm của
"ăn”! Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, v́ điều
Cha đă giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết, mà
Cha lại mạc khải cho những người bé
mọn" (Lc 10,21) . Bánh của Thiên Chúa làm no đủ
những tâm hồn người nghèo.
Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với
sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa
rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên
trời, B́nh an dưới thế cho loài người Chúa thương".
Đây là lời tung hô thực
hiện trước những lời ca tụng dịp rước
lá (Lc 19,38).