Những lời cuối cùng của Đức Giêsu trước khi Người lên trời

Suy nim ca JKN.

Câu hỏi gợi ư:

1. Trước khi về trời, Đức Giêsu đă trăn trối lại những ǵ cho chúng ta, là những môn đệ của Ngài? Chúng ta có quan tâm thực hiện những điều ấy không? thực hiện thế nào?

2. Những dấu lạ - mà Đức Giêsu hứa sẽ đi theo những kẻ có ḷng tin - có ứng nghiệm với chúng ta không? Nếu không th́ tại v́ Ngài hứa «cuội» hay v́ chúng ta chưa có đức tin đích thực? Đức tin đích thực là ǵ? Ta đă có chưa?

3. Là người đang rao giảng Tin Mừng, ta đă có đức tin thật sự chưa, hay mới chỉ là thứ đức tin được tuyên xưng chứ chưa được sống? Có những «dấu lạ» đi kèm theo lời ta rao giảng để những ai nghe ta dễ tin tưởng không?

Suy tư gợi ư:

1. Lời trăn trối cuối cùng

Trước khi từ giă các môn đệ để về trời và để hiện hữu một cách khác bên cạnh các ông, Đức Giêsu đă trăn trối nhiều điều. Những lời trăn trối quan trọng nhất là những lời Ngài nói ra trong bữa tiệc ly trước khi ra đi chịu tử nạn và ngay trước khi về trời. - Những trăn trối trong bữa tiệc ly nói lên tinh thần mà môn đệ của Ngài phải có: chủ yếu là yêu thương nhau (Ga 13), tin và hợp tác với Thánh Thần (Ga 14; 16), liên kết chặt chẽ với Ngài (Ga 15), hiệp nhất với nhau (Ga 17), mong đợi Ngài trở lại (Ga 16).

- C̣n lời trăn trối ngay trước khi Ngài về trời nói lên việc mà các môn đệ Ngài phải làm là «đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo» để tiếp tục sự nghiệp mà Ngài đă khởi sự. Đó cũng chính là công việc phúc âm hóa và tái phúc âm hóa, để mọi người không chỉ biết Tin Mừng mà c̣n thật sự sống tinh thần Tin Mừng nữa.

Về lời trăn trối sau, rất nhiều Kitô hữu chỉ hiểu một cách nông cạn, là chỉ nghĩ tới việc rao giảng cho người ta biết Thiên Chúa, biết Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu, và dừng lại tại đấy! Nhưng thử hỏi nếu chỉ biết thôi th́ ích lợi ǵ? Chẳng hạn biết rơ sự cần thiết và ích lợi của thức ăn, hay biết rơ ḿnh cần phải ăn ǵ để mạnh khỏe mà lại không chịu ăn, th́ sự biết rơ ấy có ích lợi ǵ? Nếu biết mà không sống điều ḿnh biết, không đem nó ra áp dụng th́ chẳng những vô ích mà c̣n phải chịu trách nhiệm về cái biết ấy nữa. V́ kẻ nhận 1 nén bạc th́ chỉ phải làm lợi thành 1 nén khác thôi, nhưng kẻ nhận 5 nén th́ có trách nhiệm làm lợi thành những 5 nén khác kia! (x. Mt 25,14-30; Lc 19,12-27).

V́ vậy, biết Tin Mừng mà không chịu sống Tin Mừng là tự làm cho ḿnh bị kết án nặng hơn. Cũng vậy, rao giảng cho người ta biết Tin Mừng mà không giúp người ta sống Tin Mừng th́ chỉ làm cho người ta bị kết án nặng hơn chứ chẳng đem lại lợi ích ǵ cho họ. «Đức tin chết» hay «đức tin không có việc làm» (Gc 2,17.26) đâu thể đem lại ơn cứu độ? Cũng như có đồ mà không đem ra dùng th́ đồ ấy có ích lợi ǵ? hoặc cho người ta đồ mà không chỉ cho người ta cách sử dụng th́ coi chừng kẻo làm hại người ta? Việc rao giảng Tin Mừng cần phải đi xa hơn một chút là giúp người ta sống Tin Mừng, như thế sẽ làm lợi cho họ vô cùng. Như vậy, điều quan trọng là chính chúng ta phải sống tinh thần Tin Mừng và làm cho mọi người cũng sống tinh thần Tin Mừng. Biết và sống Tin Mừng, hoặc làm cho người ta biết và sống Tin Mừng, hai thứ ấy phải đi đôi với nhau mới không có hại mà sinh ích lợi vô cùng cho ḿnh và cho người. Nên đă biết Tin Mừng hoặc giúp ai về mặt Tin Mừng th́ hăy biết hoặc giúp «tới nơi tới chốn», với tinh thần trách nhiệm. Đừng «đánh trống bỏ dùi», «đem con bỏ chợ», tức giúp nửa vời, rất tai hại!

2. Những dấu lạ đi theo những ai có ḷng tin

Theo lời của Đức Giêsu th́ những kẻ có ḷng tin đích thực - tức tin và sống điều ḿnh tin - sẽ có được những dấu lạ theo ḿnh: «Họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, th́ những người này sẽ được mạnh khoẻ». Đó là những điều mà tôi nghĩ rằng thời nào cũng đều ứng nghiệm, không chỉ là thời các tông đồ. Và những điều này trước tiên được ứng nghiệm ngay nơi bản thân những người tin rồi sau đó mới ứng nghiệm ra bên ngoài, tức với người khác hay với ngoại cảnh. Tuy nhiên, lời Ngài nói cần phải hiểu theo nghĩa tâm linh, chứ không nên hiểu theo nghĩa đen: tôi không tin rằng bất kỳ người mạnh tin nào cũng đều có thể uống thuốc độc mà không chết, hay bị rắn cắn mà không sao! V́ thế, những dấu lạ nói trên cần được hiểu như sau:

- «trừ được quỉ»: quỉ tượng trưng cho thế lực của sự ác. Người thật sự tin vào Thiên Chúa - là nguồn sức mạnh của ḿnh - có thể thắng được những thế lực của sự ác hay của tội lỗi ngay trong bản thân ḿnh. Cụ thể là thắng được những cám dỗ, những tư tưởng xấu, những khuynh hướng xấu, v.v… Nếu đức tin của họ mạnh hơn nữa, họ có thể giúp những người yếu tin cũng thắng được thế lực ác giống như họ.

- «nói được những tiếng mới lạ»: người có đức tin đích thực và sống nhuần nhuyễn đức tin ấy sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa và Đức Giêsu, tức chứng ngộ được chân lư nơi bản thân ḿnh. Nhờ đó họ có thể tự diễn đạt đức tin của ḿnh theo đủ mọi phương thức khác nhau, chứ không dùng những kiểu nói sáo ṃn, trống rỗng, thiếu chất sống. Họ luôn luôn dùng những cách diễn tả mới lạ, phù hợp với thời đại, với tŕnh độ của người nghe, giúp người nghe cũng cảm nghiệm được thực tế đức tin như họ. Họ như một y sĩ đă nắm thật vững cốt yếu của y lư nên biết tùy bệnh mà tự ḿnh cho thuốc thật hữu hiệu, phù hợp với từng căn bệnh. Họ không sao y những bài thuốc có sẵn của người khác để áp dụng chữa bệnh một cách máy móc giống như những y sĩ chưa nắm vững y lư. Hay như một thầy giáo đă tiêu hóa thật kỹ môn ḿnh dạy nên chỉ cần nói tất cả những ǵ đang có sẵn trong bụng không phải lệ thuộc một bài bản nào cả. Họ có thể nói một cách sáng tạo theo đủ kiểu đủ cách mới lạ để học sinh dễ hiểu mà vẫn luôn luôn chính xác, chứ không nô lệ vào những giáo tŕnh mẫu do người khác soạn sẵn.

- «cầm được rắn trong tay»: người có đức tin đích thực ắt nhiên có tâm hồn an b́nh và đầy tràn t́nh yêu. Họ coi mọi người - dù xấu ác hay ghét họ, muốn làm hại họ - như anh em ruột thịt và sẵn sàng hy sinh cho những người ấy. V́ thế, họ có thể tiếp cận và sống chung cả với những người xấu ác mà không hề bị hại, v́ những người nguy hiểm này vẫn luôn cảm nghiệm được t́nh thương của họ dành cho ḿnh: không ai lại muốn hại người đang yêu thương ḿnh.

- «dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao»: tất cả những nghịch cảnh, những đau khổ trong cuộc đời không thể làm mất được sự b́nh an và hạnh phúc của những người có đức tin thật sự. Với đức tin, họ biết rằng tất cả những đau khổ hay nghịch cảnh Chúa gửi tới đều là những hồng ân do t́nh thương của Ngài. Họ tin rằng: « Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28) và «những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (8,18). V́ thế, họ rất vui khi đau khổ hay nghịch cảnh xảy tới, nên đau khổ hay nghịch cảnh cỡ nào cũng không hề làm hại được họ.

- «nếu họ đặt tay trên những người bệnh, th́ những người này sẽ được mạnh khoẻ»: Ngoài ra người có đức tin đích thực c̣n có sức cảm hóa và giúp những người xấu ác - là người bị bệnh về tâm linh - trở về đường ngay nẻo chính. Họ có khả năng nâng đỡ và thêm sức mạnh cho những người yếu đuối tinh thần. Ai gần họ cũng cảm thấy ḿnh b́nh an hạnh phúc hơn, tin vững mạnh vào Thiên Chúa, vào chính bản thân và tương lai ḿnh hơn.

3. «Có Chúa cùng hoạt động» với người rao giảng Tin Mừng

Bài Tin Mừng kết thúc bằng một câu thật tuyệt vời, làm an ḷng tất cả những ai đang rao truyền Tin Mừng: «Các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng». Điều quan trọng nhất để việc loan báo Tin Mừng trở nên hữu hiệu - nghĩa là không chỉ giúp người ta biết Tin Mừng, mà c̣n làm cho họ sống Tin Mừng nữa - đó là «có Chúa cùng hoạt động với họ». Nhưng làm sao để có Chúa ở cùng? - Họ chỉ có Chúa ở cùng khi họ thường xuyên ư thức sự hiện diện của Ngài, và luôn gắn bó với Ngài bằng t́nh yêu chân thành có khả năng thúc đẩy họ hy sinh, dấn thân thật sự. Nhờ đó, họ có «những dấu lạ kèm theo» xác nhận những ǵ họ rao giảng là chân lư. Dấu lạ quan trọng và căn bản nhất - có khả năng thuyết phục những người nghe họ - chính là họ đă thật sự sống được những điều họ rao giảng. Nhờ sống điều ḿnh nói mà lời họ nói trở nên sống động, mạnh mẽ, đầy sức hấp dẫn, khiến người nghe luôn «tâm phục khẩu phục», đồng thời cảm nghiệm được sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa ở nơi họ. Ước ǵ mọi người loan báo Tin Mừng đều luôn «có Chúa cùng hoạt động» như vậy!

Cầu nguyện

Lạy Cha, xin cho con biết sống đức tin của ḿnh một cách thực tế và sống động. V́ quả thật rất nhiều khi con tuyên xưng đức tin của ḿnh hết sức mạnh mẽ trước mặt mọi người, nhưng đời sống con lại chứng tỏ con chẳng tin bao nhiêu! Thế mà con lại rao giảng thật hùng hồn về đức tin ấy khiến người nghe con cảm thấy những lời con nói chỉ là những sáo ngữ, những lời giả dối, không thể tin nổi. Xin Cha giúp con thật sự sống những điều con tin, và rao giảng những điều con sống.