NHỮNG ĐIỀU KIỆN CỦA MỘT PHÉP LẠ

Hồ nước lớn danh tiếng tại Galilê được gọi bằng ba tên: hồ Galilê, hồ Tibêriát và hồ Giênêdarét (Ghennêxaret), hồ này dài 20,8 km, rộng 12,8 km. Hồ ở vào một chỗ trũng của mặt đất, nơi sâu nhất là 225m dưới mặt biển. V́ thế nó có khí hậu giống như khí hậu nhiệt đới. Ngày nay cư dân không đông lắm, nhưng vào thời Chúa Giêsu, có chín thị trấn ở chung quanh bờ hồ, không thị trấn nào dưới 15.000 dân. Giênêdarét thực ra là tên của một cánh đồng xinh đẹp nằm phía Tây bờ hồ, đó là vùng đất ph́ nhiêu. Người Do Thái thích chơi “lắp chữ”, họ có ba cách lắp chữ cho Giênêdarét, cả ba cách đều có nghĩa là xinh đẹp.

1.                                               Bởi chữ kinnor, nghĩa là cây đàn, bởi v́ “trái của nó ngọt như tiếng đàn”, hoặc bởi v́ tiếng sóng vỗ vui như tiếng đàn.

2.                                               Bởi chữ gan, nghĩa là vườn cây, và chữ sar nghĩa là vua, tức là “vua của các vườn”.

3.                                               Bởi chữ gan, một khu vườn và chữ asher, của cải, tức “vườn đầy của cải”.

 

Tại đây chúng ta đối diện một khúc quanh trong sứ vụ Chúa Giêsu. Lần trước Chúa giảng trong hội đường, bây giờ Ngài ở tại bờ hồ, sẽ ở ngoài đường cái, và toà giảng của Ngài sẽ là chiếc thuyền. Ngài sẽ đi tới bất cứ nơi nào người ta muốn nghe Ngài giảng. John Wesley đă nói: “Các ‘linh đoàn’ của chúng ta h́nh thành bởi những kẻ phiêu bạt trên các vùng núi non tăm tối, không thuộc về một Giáo Hội, nhưng họ đă được thức tỉnh bởi lời giảng của những người đă theo đuổi họ qua các khu rừng hoang vắng cho tới các làng mạc hẻo lánh hoặc các phố chợ sầm uất, các đồi cao trũng thấp, những người đă dựng cờ thập giá trên các đường phố, cùng ngơ hẻm của các đô thị, trong các thôn xóm, trong các nhà kho, trong các nhà bếp trại quê, v.v… và các việc đó được thực hiện như chưa từng có ai làm kể từ thời các tông đồ”. Wesley c̣n nói: “một căn pḥng tiện nghi, một cái gối quỳ êm ái, và một toà giảng xinh xắn tiện nghi thật, nhưng giảng ngoài đồng cứu được nhiều linh hồn hơn”. Khi hội đường đóng cửa th́ Chúa Giêsu giảng ngoài đường, bên bờ hồ…

 

Trong chuyện này có một điều có thể gọi là bảng liệt kê các điều kiện của một phép lạ.

1.                                                 Có mắt biết nh́n xem. Chúng ta không cần suy nghĩ rằng Chúa Giêsu đă dựng nên bầy cá lớn đó trong trường hợp này. Biển Galilê có nhiều bầy cá đông đảo đến nỗi có thể che đặc mặt biển trong một khu vực rộng lớn. Có lẽ con mắt thấu suốt của Chúa Giêsu đă nh́n thấy bầy cá lớn đó mà những người ngư phủ không thấy. Chúng ta cần cặp mắt biết nh́n. Nhiều người đă thấy nước sôi làm bật cái nắp vung nhưng chỉ một ḿnh James Watt đă nh́n và sáng chế ra máy hơi nuớc. Nhiều người đă nh́n thấy trái táo rơi, nhưng chỉ một ḿnh Isaac Newton đă t́m ra định luật hấp lực của trái đất. Thế giới đầy dẫy những phép lạ cho những đôi mắt biết nh́n xem.

 

2.                                                 Có tinh thần biết cố gắng. Khi Chúa Giêsu nói vậy, dù rất mệt nhọc, Phêrô cũng sẵn ḷng thả lưới một lần nữa. Nhiều người đành chịu thảm bại trong cuộc đời v́ họ đă ngă ḷng quá sớm.

 

 

3.                                                 Có tinh thần dám cố gắng trong trường hợp hầu như tuyệt vọng. Đêm đă qua rồi, đêm mới thuận tiện cho việc đánh bắt. Tất cả hoàn cảnh đều không thuận lợi, nhưng Phêrô nói: “Tuy hoàn cảnh như vậy nhưng nếu Thầy bảo th́ chúng con xin vâng”. Chúng ta thường chờ đợi v́ thời cơ chưa thuận lợi, nếu cứ đợi cho tới lúc mọi sự đều thuận lợi th́ chắc sẽ không bao giờ chúng ta bắt đầu được. Nếu chúng ta theo đúng lời Chúa Giêsu truyền dạy khi Ngài bảo chúng ta làm một việc không thể thực hiện th́ phép lạ sẽ xảy ra.