CHÚA NHẬT IV MV (Năm B):
Lc 1, 26 - 38
DÙ TÔI LÀ TÔI TÁ ĐỨC CHÚA TRỜI,
TÔI KHÔNG THỂ VÂNG NHƯ LỜI THÁNH THIÊN THẦN
TRUYỀN
Ngươi
dân Pháp hay nhớ về « một thời vang bóng » và
v́ thế thường sử dụng « điều
kiện cách hoàn thành » (conditionnel parfait) giúp họ xây
dựng những giấc mơ hảo huyền nhất
với chữ « nếu ». Rồi người ta
đặt tên cho kiểu mộng mơ nầy là « lâu
đài ở Tây Ban Nha » (chateaux en Espagne) vừa
để chế nhạo người, vừa để
tự cười ḿnh và hài hước với nhau :
« Với một chữ ‘nếu’ thôi, th́ người ta
đă bỏ được cả Paris vào một cái
chai » (avec un ‘si’ et l’on aurait mis Paris dans une bouteille). Tinh
thần đó thể hiện cả nơi những
người nghiêm túc nhất như nhà văn, nhà khoa
học và nhà tư tưởng ở thế kỷ 17, Blaise
Pascal, khi ông viết trong cuốn Tư Tưởng (Pensées): «Nếu cái
mũi của [nữ hoàng Ai Cập] Cléopâtre ngắn hơn,
th́ bộ mặt thế giới đă bị đổi
thay » (si le nez de Cléopâtre a été plus court, la face du monde aurait
été changée). Bộ mặt địa cầu và lịch
sử cứu độ nhân loại sẽ đă như
thế nào, có bị đổi thay đảo lộn
chăng và Thiên Chúa có ‘phương án dự pḥng ‘ khác
chăng, nếu như thay v́ lời thưa mà ta quen
đọc thấy trong Tin Mừng, ngày truyền tin, Đức
Maria đă nhă nhặn
từ chối: « Dù tôi là tôi tá Đức Chúa
Trời, tôi không thể vâng như lời thánh thiên thần
truyền ». Điều ǵ sẽ xảy ra tiếp sau
đó, không ai đoán ra được, nhưng
cảnh tượng đọc thấy trong bài thơ ‘Ave
Maria’ bất hủ của thi sĩ người Việt Hàn
Mặc Tử có lẽ cũng xảy ra như thế:
«Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabirel: khi Người
xuống truyền tin cho Trinh Nữ, Người có nghe xôn
xao muôn tinh tú?». Nếu quả có lời khước từ
nầy, th́ quả bom nó tạo ra cũng không thua kém -
nếu không muốn nói là mănh liệt hơn - lời
« Fiat » của Mẹ.
Trong văn
học cũng như trong nghệ thuật thứ bảy,
vô số những câu truyện khoa học giả
tưởng và viễn tưởng cùng với các chi
tiết ly kỳ, hấp dẫn, được các
tiểu thuyết và phim ảnh đưa ra. Những
sự kiện và chi tiết ấy, ở vào thời
điểm chúng được tŕnh bày trên tiểu
thuyết hoặc trên màn ảnh, nếu không bị coi là
phản khoa học, th́ cũng bị liệt vào những
giấc mơ hảo huyền của con người. Các
nhà phân tâm học sẵn sàng giải thích nguồn gốc
‘vô thức’, ‘tiềm thức’ của ‘ư chí bá chủ’ (volonté
de puissance) bị ‘dồn nén’ (frustration) nơi con
người, ví dụ những ‘đồ án’ và phát minh
của Leonardo Da Vinci, chuyện “Hai mươi ngàn dặm
dưới đáy biển” của Jules Verne, chuyện
hoạt h́nh “Thám hiểm mặt trăng’ của Hergé
với nhân vật Tintin. Khoa học đă làm nhiều
hơn và xa hơn thế nữa. “Phong - Lao - Cổ -
Lại “, không lâu trước đây là “tứ chứng nan
y”, nhưng nay khoa học đă và sẽ chế ngự
được chúng. Ngoài ra hằng ngày, hàng giờ trên
khắp thế giới, có những sự kiện mà khoa
học không thể nào giải thích được, đă
xảy ra nhờ lời chuyển câu của Đức
Maria hoặc của các vị thánh. Người ta gọi
đó là ‘phép lạ’. Tất cả những
điều nầy ít nhiều đều ở
‘điều kiện cách’ và tất cả đều đă
thành hiện thực.
Tại sao
lại cho rằng không thể xảy ra việc Cô Maria
từ chối? Cô trinh nữ Maria hoàn toàn có thể
khước từ lời mời gọi của Thiên Chúa v́
nhiều lư do chính đáng, trong đó việc Cô đă quyết
định từ thuở ấu thơ, là tận hiến
thân xác linh hốn để tôn thờ Thiên Chúa, với
sự tán thành của người hôn phu thánh thiện
đáng kính Giuse. “Tu hội tại gia” đầu tiên
nầy chắc chắn cũng rất đẹp ḷng Thiên
Chúa. Những “điều kiện cách hoàn thành” không thiếu
trong Tin Mừng, tốt cũng như xấu, như khi Chúa
Giêsu xót xa nói về Giu-dà: “thà nó đừng sinh ra th́ hơn”
(Mc 14,21); hay như khi Mac-ta thưa với Chúa Giêsu: ”Nếu
có Thầy ở đây, th́ em con đă không chết’ (Ga 11,
21). Giu-dà đă sinh ra và đă làm công việc bị muôn
đời phỉ nhổ. Nhưng cậu em Lazarô của
Mác-ta đă sống lại để muôn đời
ngời khen tôn vinh Chúa. Sự khước từ của Cô
Maria có thể không ai biết đến, v́ không
được ghi lại, nhưng cũng chắc chắn
được Thiên Chúa tôn trọng, v́ Thiên Chúa luôn tôn
trọng tự do của con người. ‘Nếu’ - lại
thêm một ‘điều kiện cách hoàn thành’ - Cô Trinh Nữ
Maria đă thưa “Fiat” trong đe doạ, bức bách (ví
dụ như sứ thần có thể hé cho Cô Maria biết
chuyện ông Zacharia bị câm do không tin lời sứ
thần Chúa), th́ dù Chúa Ngôi Hai đă ra đời, cũng
đă không có giá trị cứu chuộc: không có tự do,
không có sự cộng tác của con người, th́ mọi
ư định của Thiên Chúa cho con người không thể
thực hiện được. Đơn giản là v́
Thiên Chúa thực hiện mọi điều v́ t́nh yêu vô biên,
mà điều kiện sine qua
non của t́nh yêu là luôn phải hai chiều và hoàn toàn
tự do. Tất nhiên tự do có giá rất đắt khi
con người sử dụng sai lệch tự do hoặc
khi dùng tự do để làm điều sai trái, xấu xa.
Khi ấy, con người phản bội chính Thiên Chúa.
Đức Maria, v́ vậy, chẳng những đă sử
dụng tự do để luôn t́m Thánh Ư Chúa, mà luôn sẵn
sàng thưa “xin vâng” với bất kỳ khi nào và trong
bất cứ điều ǵ Chúa muốn Mẹ làm.
Đơn giản v́ với Mẹ Maria, đó là cách
biểu lộ t́nh yêu và đáp lại t́nh yêu của Thiên
Chúa.
“Tự do” là
chọn lựa sống nghĩa t́nh mật thiết với
Đấng Tạo Hoá ( x. St 2, 4b – 8; 3,8), tuân giữ
những ǵ là “cội phúc” nhưng cũng có thể là “dây
oan’ cho loài người và cho bản thân (x. St 3, 2 - 7).
‘Tự do”, v́ thế, là cái làm nên phẩm giá con
người, phân biệt con người với những
loài khác Chúa dựng nên. Hành động theo bản năng,
nghiêng chiều về sự dữ, tức là con
người tự hạ thấp ḿnh ngang với thú
vật, đồ vật, ngược với địa
vị, số phận và mục đích mà Thiên Chúa đă
muốn cho con người, khi dựng nên con người “theo h́nh ảnh Người”
( St 1, 26 - 31). Cũng có nghĩa là phản bội Thiên Chúa.
H́nh ảnh chiếc xe lửa với các toa vận hành trên
hai thanh ‘ray’: Tự do không có nghĩa là bỏ
đường ‘ray’ để vận hành trên con
đường hoặc theo loại h́nh khác. Người ta
cũng gọi những người có suy nghĩ và hành
động sai lệch như thế, là “trật
đường ray”! Đức Maria đă không thể
từ chối, đă không thể nói khác với “Fiat”,
bởi v́ Mẹ đă tự do chọn đi theo Chúa,
chọn dâng hiến trọn đời phục vụ Nhà
Chúa, luôn tâm niệm thi hành Thánh Ư Chúa, bất kể lạ
lùng, khó khăn đến đâu, bất kể nghịch
lại tâm ư riêng của Mẹ thế nào. Mẹ đi trên
‘đường ray” thánh ư Chúa, phó thác cả đời
sống của Mẹ cho Người Lái Tàu Toàn Năng, v́
thế “Nhà Ga - Truyền Tin” chỉ là một chặng
dừng như bao chặng dừng trước đó và sau
nầy của Mẹ, trên con đường thực thi
thánh ư Chúa, không phải để ngừng lại, mà là
để tiếp tục cuộc hành tŕnh xa hơn, về
Bến Thiên Đàng. Tiếng thưa ”Fiat – Xin Vâng” là chuyện
không thể khác được và hoàn toàn được
thực hiện trong tự do.
Trong cuộc
sống, với cách làm việc quan liêu nhũng nhiễu,
người ta chẳng xa lạ với câu nói “dân cần,
quan chẳng vội”. Nhưng trong cuộc sống
đạo đức, th́ biết bao lần thực tế
ngược lại hoàn toàn: “quan cần, nhưng dân
chẳng vội”; “Cần” ở đây là Thiên Chúa muốn
con người cộng tác để được
cứu độ; “Cần” ở đây c̣n là Thiên Chúa
muốn mỗi Kitô-hữu sống đức tin và làm
chứng cho Chúa Kitô: nhưng con người - kể cả
và nhất là Kitô-hữu - vẫn ơ hờ với lời
mời gọi của Chúa, vẫn sống theo ư riêng ḿnh,
vẫn thấy ḿnh “đủ” lư do và lư lẽ để
lầm lủi tiếp bước đường ḿnh
đi.
Chúa là
Đường, là Sự Thật và là Sự Sống: khi
con sống theo Chân Lư, đi theo Con Đường Chúa
đă đi và chỉ dẫn cho con, th́ trước mỗi
sự kiện lớn nhỏ, trong mọi hoàn cảnh và
biến cố xảy ra trong đời, con sẽ luôn có câu
trả lời đúng đắn và hợp với Thánh Ư
Chúa và mau mắn nhận ra để chối từ
những ǵ không phải là Ư Chúa. Con sẽ có được
Sự Sống đời đời. Đừng bao
giờ để con mê muội, tiếc nuối và tŕ hoăn
trong những ước muốn và hành động tội
lỗi, ích kỷ, kiêu căng,. Con sẽ như bầy dê
bên tay trái ngày Phát Xét Chung: ‘Quân bị nguyền rủa kia,
đi cho khuất mắt Ta..” (Mt 25,41). Đây chính là
cuộc sống ở “điều kiện cách hoàn thành”!
Không phải
đương không mà “Mẹ
đă từng đáp ‘Xin Vâng’”: Được như
thế, là v́ – và chỉ v́ - ”Mẹ
đă từng sống ‘Xin Vâng’”. “Mẹ hăy cầu Chúa cho con sống cuộc
đời ‘xin vâng’”.
CVK Nguyễn-Thế-Bài