Anh em hăy yêu thương nhau

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện)

Bài Tin Mừng hôm nay gồm hai phần: lời giải thích của Đức Giêsu về cuộc Vượt Qua của Người (Ga 13,31-32) và lệnh truyền mới của Đức Giêsu cho Hội Thánh (Ga 13,33a.34-35).

 

1. Lời giải thích của Đức Giêsu về cuộc Vượt Qua của Người (Ga 13,31-32)

Giuđa bắt đầu thực hiện âm mưu nộp Đức Giêsu. Khi Giuđa đă đi rồi, Đức Giêsu giải thích bản chất của những thực tại đang diễn ra. Nh́n bề ngoài, Người đang đi vào một cuộc thất bại kinh khủng, nhưng thực chất, cái chết của Người chính là một cuộc bày tỏ vinh quang và t́nh yêu ở mức tṛn đầy: “Giờ đây Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người” (Ga 13,31). Thực hiện chương tŕnh của Thiên Chúa, Con Người diễn tả t́nh yêu và vinh quang của Người ở mức độ cao nhất và trọn vẹn nhất. “Ngôi Lời đă trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đă được nh́n thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14). Với tất cả tự do, Đức Giêsu phó nộp ḿnh trong tay kẻ dữ và đón nhận cái chết thảm khốc, v́ yêu mến và để cứu độ thế gian. Cái chết của Người, quả thực, chính là bằng chứng lớn lao và vĩ đại nhất của t́nh yêu mà Thiên Chúa dành cho loài người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một, để ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Chính theo nghĩa đó, “Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người” (Ga 13,31).

 

“Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, th́ Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính ḿnh, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người” (Ga 13,32). Cần đọc lời này của Đức Giêsu trong liên hệ với Ga 12,28: “Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha." Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: "Ta đă tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ c̣n tôn vinh nữa!”.

T́nh yêu mà Đức Giêsu bộc lộ trong cuộc thương khó và cái chết của Người, t́nh yêu đă được thi thố đến mức tận cùng qua h́nh ảnh máu và nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Người, t́nh yêu ấy sẽ đổ tràn vinh quang của Thiên Chúa nơi chúng ta. Và “từ nguồn sung măn của Người, tất cả chúng ta đă lănh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16). Đó chính là cách Thiên Chúa tôn vinh Con Một của Người nơi chính ḿnh. Nói cách khác, chính khi Đức Giêsu sống thân phận hạt lúa bị thối rữa trong ḷng đất, lại là lúc xảy đến cuộc Thiên Chúa tôn vinh Người bằng cách đổ tràn trên nhân loại tất cả ơn nghĩa và sự thật: “Đức Giêsu nói: "Đă đến giờ Con Người được tôn vinh! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào ḷng đất mà không chết đi, th́ nó vẫn trơ trọi một ḿnh; c̣n nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,23-24).

 

Như thế, ở tận cùng của sự ô nhục của thập giá lại là cuộc tôn vinh tuyệt vời của Con Thiên Chúa, cuộc tôn vinh v́ t́nh yêu và ơn cứu độ dành cho thế gian. Nơi tận cùng của cái chết bi thảm lại là điểm khởi đầu của sự sống mới mẻ và viên măn, bởi v́, nơi sự chết mà Đức Giêsu đang đi vào, “Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, th́ Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính ḿnh, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người” (Ga 13,31-32).

 

2. Căn tính của cộng đoàn Hội Thánh – cộng đoàn Mêsia (Ga 13,33a.34-35)

Chính trong tư thế của Đấng được Thiên Chúa tôn vinh đó, Đức Giêsu nói những lời từ biệt các đồ đệ: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy c̣n ở với anh em một ít lâu nữa thôi.  Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hăy yêu thương nhau; anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có ḷng yêu thương nhau” (Ga 13,33a.34-35).

 

Đức Giêsu sắp rời khỏi thế gian, nhưng các đồ đệ của Người vẫn c̣n ở trong thế gian (Ga 13,1; 17,11). Đức Giêsu thiết lập họ thành cộng đoàn và ban cho họ căn tính riêng biệt của những con người thuộc về cộng đoàn đó. Trước đây, các đồ đệ đă biết Đức Giêsu là Đấng Mêsia (1,41.45.49); và bây giờ, các ông sẽ biết đâu là đặc tính quan trọng bậc nhất của cộng đoàn Mêsia: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hăy yêu thương nhau” (Ga 13,34a).

 

Khi nói “điều răn mới”, Đức Giêsu có ư đặt điều răn này đối lập với luật cũ. Luật Môsê được thay thế bằng lệnh truyền tràn đầy ân sủng và sự thật của Đức Giêsu. Sự khác biệt giữa hai giao ước được xác định. “Quả thế, Lề Luật đă được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, c̣n ân sủng và sự thật, th́ nhờ Đức Giêsu Kitô mà có” (Ga 1,17). “Đấng từ trên cao mà đến th́ ở trên mọi người; kẻ từ đất mà ra th́ thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Đấng từ trời mà đến th́ ở trên mọi người. Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, th́ nói những lời của Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn” (Ga 3,31.34). Vinh quang của Thiên Chúa là sự dẫy tràn ân sủng và sự thật (Ga 1,14), nên đ̣i hỏi dành cho những người được đưa vào vinh quang ấy cũng phải là t́nh yêu và chân lư, bởi v́ “từ nguồn sung măn của Người, tất cả chúng ta đă lănh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16).

 

Điều đáng chú ư: trong điều răn mới, Đức Giêsu không hề đ̣i hỏi các đồ đệ phải làm ǵ cho chính Người hoặc cho Thiên Chúa, mà chỉ đ̣i hỏi các đồ đệ yêu thương nhau. Thiên Chúa không tập trung chú ư của Người về chính bản thân ḿnh. T́nh yêu của Người là t́nh yêu năng động hướng đến toàn thể vũ trụ và nhân loại. T́nh yêu của Người là t́nh yêu hiến tặng cho nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một, để ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

 

Khuôn mẫu và tiêu chuẩn của t́nh yêu mà các đồ đệ phải thi thố là chính Đức Giêsu: “Anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em” (Ga 13,34b).

 

Đức Giêsu đă từng mời gọi các đồ đệ đồng hóa với Người trong sự sống và trong cái chết của Người: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi ḿnh” (Ga 6,53). Bây giờ, Người xác định rằng các hành động của Người chính là khuôn mẫu cho cách sống của các độ đệ: điều răn mới chính yếu hệ tại ở chỗ các đồ đệ yêu thương nhau như Người đă yêu thương họ vậy. Đức Giêsu là tiêu chuẩn, là thước đo, là khuôn mẫu, là lư tưởng và là cùng đích tối hậu của t́nh yêu thương.

 

Có thể lấy hai hành động mà Đức Giêsu vừa thực hiện làm điểm quy chiếu giúp giải thích thế nào là yêu thương nhau “như Thầy yêu anh em”: sự kiện Đức Giêsu rửa chân cho các đồ đệ (Ga 13, 1-20) và thái độ của Người đối với Giuđa, kẻ nộp Người (Ga 13,21-32). Bằng việc rửa chân cho các đồ đệ, Đức Giêsu cho thấy điểm quan trọng trong t́nh yêu là đón nhận người khác và đặt ḿnh trong tư thế phục vụ người khác bằng cách đem lại cho họ phẩm giá và sự tự do nhờ t́nh yêu mến. Cách hành xử của Đức Giêsu đối với Giuđa cho thấy t́nh yêu đó không được giới hạn vào một loại đối tượng nào và không được loại trừ bất cứ ai, nhưng luôn luôn hết mực tôn trọng tự do của người khác một cách đúng đắn.

 

Lệnh truyền mới của Đức Giêsu được ban cho những người thuộc về Người, tức là những kẻ được Thiên Chúa sinh ra nhờ Thánh Thần (Ga 1,13: “Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa”; 3,5-6: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí; cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí”). Do Thiên Chúa sinh ra, những người đó đă đón nhận quyền trở nên con cái Thiên Chúa (Ga 1,12), và họ sẽ thực sự trở nên con cái Thiên Chúa khi họ yêu thương như chính Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đă yêu thương: chính Người là con đường, là sự thật và là sự sống (Ga 14,6).

 

T́nh yêu thương giữa các đồ đệ với nhau phải là một thực tại có thể thấy được và có thể được mọi người nhận biết. V́ thế, t́nh yêu ấy cần phải được diễn tả bằng những hành động thực tế, như Đức Giêsu đă thực hiện. Và đây sẽ là một dấu hiệu đánh dấu dung mạo và phản ánh căn tính của cộng đoàn. Sự kiện các đồ đệ thuộc về Tôn Sư chí thánh (“anh em là môn đệ của Thầy”) không phải là một điều lư thuyết, mà là một thực tại cụ thể được diễn tả trong thực tế của cuộc sống tràn đầy yêu thương. Cộng đoàn các đồ đệ của Chúa Giêsu sẽ không “đánh dấu” ḿnh bằng những lư thuyết khôn ngoan độc đáo, cũng không phải bằng những bài diễn thuyết hùng hồn, cũng chẳng phải bằng những lời giảng khuyên tốt lành, cũng không phải bằng những tư tưởng cao xa về Thiên Chúa. Cộng đoàn Hội Thánh thể hiện ḿnh trong khả năng yêu thương đến tận cùng và trong việc xây dựng một xă hội mới của t́nh yêu thương đến tận cùng ấy. Và đó chính là điều làm cho Chúa Cha được nhận biết giữa thế gian.

 

Thay cho ḥm bia của giao ước cũ, Đức Giêsu muốn thiết lập một không gian và nơi chốn yêu thương trong giao ước mới. Thế gian sẽ nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong chính t́nh yêu thương mà các độ đệ của Đức Giêsu thi thố giữa thế gian. Không phải những cơ cấu hoàn chỉnh, không phải những cuộc lễ tưng bừng hay những thứ khác tương tự, sẽ là dấu hiệu để thế gian nhận biết các độ đệ của Đức Giêsu, mà là t́nh yêu thương như chính Đức Giêsu đă yêu thương. Đó là tiêu chuẩn duy nhất mà Đức Giêsu đă thiết lập để “đánh dấu” dung mạo của cộng đoàn Mêsia.

 

Khi thiết lập tiêu chí duy nhất để cộng đoàn Hội Thánh được nhận biết giữa thế gian như thế, Đức Giêsu đă loại trừ tất cả những tiêu chí khác. Căn tính của Hội Thánh không được đặt nền trên luật lệ hay phụng tự. T́nh yêu thương tha nhân là bằng chứng duy nhất của sự hiện diện đích thực của t́nh yêu của Thiên Chúa nơi con người. Hội Thánh là mầu nhiệm t́nh yêu ấy giữa thế gian. Các thành phần của Hội Thánh hiệp thông với nhau trong t́nh yêu ấy, và cùng nhau làm chứng cho Chúa Kitô bằng cách thực thi t́nh yêu ấy.