ẢNH ĐỨC MẸ HAY LÀM PHÉP LẠ
(Rue du
Bac)
1. Nguồn Gốc
Năm 1830 Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đă hiện ra tại nhà nguyện của trụ sở nhà mẹ ḍng Nữ Tử Bác Ái, số 140, phố Bắc (Rue du Bac), thành phố Pa-ri. Người được thị kiến là chị Ca-ta-ri-na La-bu-rê
(Catherine Labouré), 24 tuổi vừa được nhập tập viện của ḍng
vào tháng 4 năm đó.
Trong lần thị kiến thứ nhất, đêm 18 rạng ngày 19 tháng 7, chị Ca-ta-ri-na được thấy Đức Trinh Nữ ngự ở triều ca của nhà nguyện. Đức Mẹ phán dạy chị tập sinh
qú dưới chân Mẹ rất nhiều, và c̣n
tiên báo nhiều
điều
sẽ xảy ra ít
năm sau đó.
Ngày 27 tháng 11 năm 1830, chị Ca-ta-ri-na lại được nh́n thấy Đức Mẹ. Lúc ấy khoảng 5 giờ sáng, khi chị đang nguyện ngắm với cộng đoàn. Lần này Đức Mẹ hiện ra đứng trên địa cầu, hai tay giang rộng, hướng xuống với những luồng ánh sáng chiếu dọi địa cầu. Chung quanh cảnh ấy, chị Ca-ta-ri-na đọc được những hàng chữ bằng vàng: “Đức Ma-ri-a Đầu Thai Vô Nhiễm Tội, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Mẹ.”
Một
lát sau, cảnh
ấy dường như biến mất và chị Ca-ta-ri-na lại nh́n thấy chữ M trên có Thánh Giá ở giữa hai Thánh Tâm Giê-su Ma-ri-a.
Lúc đó chị nghe Đức Trinh Nữ truyền: “Con hăy đi bảo người ta làm một ảnh vảy theo
mẫu này.”
Đó là gốc tích của loại ảnh vảy mà giới đạo đức gọi là ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ bởi v́ người
ta đă xin được đủ các ơn nhờ ảnh này.
Những lần thị kiến năm 1830
đánh dấu bước đầu của một giai đoạn vĩ đại liên quan đến giáo lư Đức Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hai
mươi bốn năm sau, Đức Pi-ô IX
đă tuyên bố
tín điều
Đức
Ma-ri-a Vô Nhiễm
Nguyên Tội.
Và năm 1858, Đức Mẹ lại hiện ra tại hang Mát-sa-bi-en
(Massabielle) mặc khải cho Bê-na-đê-ta
Su-bi-ru (Bernadette Soubirous): “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”
Khắp
thế
giới
hiện
nay có vô vàn ảnh
vảy.
Ảnh Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ là một giáo lư bằng h́nh ảnh, một biểu trưng sống động về lịch sử ơn cứu độâ Chúa Giê-su Ki-tô đă thực hiện.
Người ta vẫn lũ lượt đến kính viếng nguyện đường phố Bắc. Từ muôn phương địa cầu, họ đến để cầu nguyện và lắng nghe thông điệp Mẹ dạy. Họ
cũng có dịp
tôn kính thi hài chị
Ca-ta-ri-na La-bu-rê, người tông
đồ
của
Đức
Mẹ
Hay Làm Phép Lạ
và đă được Giáo Hội ghi vào
sổ bộ các
thánh từ
năm 1947.
Người nữ tu hèn mọn này ẩn ḿnh
trong yên lặng
và cống
hiến
45 năm đời
sống
của
ḿnh để
phục
vụ
những
người già cả nghèo khổ tại cộng
đoàn của
chị
tại
Rơ-i-li (Reuilly), Pa-ri. Chị
đă qua đời
tại
đó ngày 31 tháng 12 năm 1876.
2. Biểu Tượng
Đôi điều về các biểu tượng ngày nay: Ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ không đơn
giản chỉ là một vật nhỏ bé mà c̣n là một dấu chỉ, tức là c̣n nói lên một điều ǵ khác.
Thực
ra ảnh
vảy
này không phải
là một
dấu
chỉ
thông thường. Đó là một biểu tượng, theo La-lan-đa
(A. Lalanda) tức là một “dấu chỉ cụ thể gợi lên, do một liên hệ tự nhiên, một cái ǵ khiếm diện hoặc không thể tri giác được.” Nếu không hiểu được những sự vật mang ư nghĩa tượng trưng, người ta sẽ không hiểu được ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ v́ người ta trước
tiên phải
vượt qua dữ kiện vật chất.
Văn hóa Tây Phương đă gạt bỏ và hiểu sai về các biểu tượng, coi chúng chỉ như những công cụ thông tin (những h́nh thức để truyền đạt ư tưởng) hay những các thức biểu đạt thi vị về một thế giới vô thực nào đó mà thôi.
Ngày nay người ta đang khám phá
lại các “thực thể biểu tượng,” tức là họ phải vượt lên trên dữ liệu hiện tượng để t́m kiếm chiều kích của sự vật được biểu trưng, mà, nếu không có chiều kích này, th́ các biểu tượng kia không thể “sống” được. Người ta nhận ra rằng họ
đang sống
giữa
một
thế
giới
các biểu
tượng, chúng “nói lên bí mật của vô thức, đưa đến những tài năng kín ẩn nhất, và mở rộng tâm hồn ra trước những ǵ c̣n bí ẩn và vô
biên. Các biểu tượng tạo nên một nhu cầu không thể bỏ qua về chiều kích lịch sử của con người, và v́ thế lôi cuốn đến với thực tế trong những ngôn từ con người hơn.
Trong thế kỷ XIX, chính Đức Mẹ đă dùng thứ ngôn ngữ biểu tượng khi truyền dạy chị Ca-ta-ri-na La-bu-rê.
V́ thế, chúng ta phải áp dụng biểu trưng học để t́m hiểu trọn vẹn ư
nghĩa sâu xa của
ảnh
vảy
Đức
Mẹ
Hay Làm Phép Lạ.
(Những điều dưới đây được viết dựa theo
bộ Tự Điển Các Biểu Tượng gồm bốn quyển của J. Chevalier,
2. Trinh Nữ giữa Ánh Sáng
- Trinh Nữ mặc y phục trắng và đội khăn: Đồng trinh nói lên một hữu thể nguyên vẹn, thánh hảo, và tinh tuyền (ngay tấm khăn đầu cũng nói lên sự thánh hiến). Mẹ luôn sẵn sàng tiếp nhận sản tính của Thiên Chúa (divine
fecundity) bởi v́ Mẹ hoàn toàn mở rộng ḷng, “Người Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa biểu trưng cho trái đất hướng về mặt trời, để rồi nhờ đó trở thành một trái đất được biến đổi, một trái đất được chiếu sáng.”
- Biểu trưng của ánh sáng: “Gương mặt Mẹ - theo lời chị Ca-ta-ri-na - tuyệt vời mỹ lệ, không thể tả nổi.” Những tia
sáng phát ra từ tay Mẹ là biểu tượng các ân sủng Mẹ ban xuống. Trong Thánh Kinh, ánh sáng thường tượng trưng cho sự sống, ơn cứu độ và hạnh phúc Thiên Chúa ban. “Trong khi đó bóng tối tượng trưng cho sự dữ, nhục nhă, h́nh phạt phản bội, và sự chết.”
Tràn ngập ánh sáng rực rỡ, Đức Ma-ri-a ngự nơi miền cánh chung, miền sáng láng của những người sống. Theo các giáo phụ, ánh sáng là biểu tượng của thiên đàng vĩnh hằng. Là ánh sáng trong
Thiên Chúa, Đức Ma-ri-a hoàn toàn đối nghịch với sự mờ đục và giả h́nh, Mẹ
là sự thông hiệp và chân thực hoàn toàn.
3. Trinh Nữ Vinh Thắng
- Bàn tay đeo nhẫn: Chúng ta không ưa thích h́nh ảnh này cho bằng h́nh ảnh đôi tay giang rộng (tay đeo nhiều nhẫn là “mốt” đời nay). Đức Ma-ri-a không giữ lại ǵ cho bản thân, Mẹ không sở hữu nhưng là cho đi tất cả. Tay Mẹ mở rộng mời gọi và tiếp
đón. Những chiếc nhẫn tượng trưng mối liên kết trung thành, chúng là “dấu chỉ của một giao ước, một thề hứa, một cộng đồng, một số phận gắn bó với nhau.”
Là Hôn Thê của Thiên Chúa, Đức Ma-ri-a c̣n tín trung
cả với nhân loại: Mẹ là hiện thân của giao ước với Thiên Chúa của một thế giới mới.
- Con rắn màu xanh đốm vàng theo cái nh́n của người Do Thái và của các ki-tô hữu tượng trưng cho Sa-tan và quyền lực sự dữ. Nó quằn quại quanh gót chân Đức Trinh Nữ. H́nh ảnh này cho chúng ta một cái nh́n quyết liệt về thế giới, đấu trường của trận chiến sống mái giữa thiện và ác. Con rắn là kẻ thù của nhân loại v́ nó đă khởi đầu cuộc nổi loạn thú vật; nhưng người ta cũng thấy nó ngay nơi
loài người bởi v́, theo
Gút-ta Dung (C.Gustav Jung), “nó tàng h́nh vào tâm trí bên trong, một chủ nghĩa phiếm thần đen tối vừa kỳ lạ, vừa khó hiểu, vừa huyền bí.” Đức
Trinh Nữ
toàn thắng
Sa-tan kêu mời
chúng ta từ
bỏ
những
ǵ tăm tối
trong chúng ta và không thỏa hiệp với những thế lực của sự dữ.
- Địa cầu “có thể mang một ư nghĩa kép
đôi: Toàn thể không gian vũ trụ và toàn thể pháp quyền của một quyền lực tuyệt đối. Ư
thứ
hai này mới
cần
được giải nghĩa về quyền lực của một nhân vật nào
đó thi hành trên một lănh thổ nhất định. Quyền lực này tự nó giới hạn,
đó là ư nghĩa của trái địa cầu.” Trái địa cầu dưới chân Đức Trinh Nữ tượng trưng vương
quyền
của
Mẹ
trên thế
giới,
trên các quốc
gia và trên mọi
tâm hồn.
Nói cách khác, tất cả đều thuộc về Đức Ma-ri-a. Sự kiện này
không biết
có phải
là nền
tảng
của
việc
tận
hiến
cá nhân và xă hội
cho Đức
Mẹ
không? Tuy nhiên, chúng ta không được bỏ qua cử chỉ trước đó của Đức Mẹ, với trái địa cầu chiếu sáng trên tay.
Theo nhận xét của Guy-tông (J. Guitton):
“Đức Trinh Nữ vinh thắng, Người hiến dâng và hiệp nhất toàn thể vũ trụ trong lễ hiến dâng này, đại diện cho tâm hồn nhà khoa học vũ trụ đă được hiệp nhất nhờ Chúa Ki-tô Phục Sinh. Cha Tê-la đơ Sác-đanh (Teilhard de Chardin) trong tác phẩm tuyệt diệu “The Mass on the
World” đă diễn tả những tâm t́nh này theo cách riêng của ngài. Đó cũng là những tâm
t́nh của
Đức
Trinh Nữ,
Người hiến dâng trái địa cầu bằng vàng.”
Việc
tận
hiến,
như một sự công nhận sứ mạng làm mẹ và nữ vương của Đức Ma-ri-a, từ Đức Ma-ri-a
mạnh
mẽ hướng về Đức Chúa là Cha và là Thiên
Chúa tối
thượng.
4. Đức Trinh Nữ Thương Xót
- Thập Giá tượng trưng Chúa chịu nạn trên Thập Giá. “Không chỉ
là h́nh ảnh
Chúa Ki-tô, Thập
Giá c̣n đồng
nhất
với
lịch
sử
Nhân Tính của
Ngài tức
là con người của Ngài. Tự
nó, Thập
Giá được coi như một biểu tượng tổng thể nhất v́ nó
liên hệ
đến
ba biểu
tượng căn bản khác là
thày dạy,
h́nh tṛn và h́nh vuông. Thập Giá có chức năng tổng hợp và đo lường.
- “Nơi Thập Giá, trời và
đất
nối
liền
nhau... thời
gian và không gian gặp
nhau. Đó là biểu trưng
của
người nối kết, người
trung gian, người mà tự bản tính là
sự
giao ḥa vĩnh viễn
của
vũ trụ
và sự
thông hiệp
giữa
trời
đất,
từ
đỉnh
cao xuống
đáy vực
và từ
đáy vực
lên đỉnh
cao.”
- Trái tim điệp lại hai lần trên mặt sau ảnh vảy chỉ Chúa Giê-su và Đức Ma-ri-a, phù hợp với nghệ thuật ảnh tượng truyền thống. Trái tim có một sức mạnh gợi cảm, nơi tập trung những cảm t́nh (theo Tây Phương). Trong truyền thống Thánh Kinh, trái tim tượng trưng con người nội tâm, đời sống cảm t́nh và là trung tâm của hữu thể. V́ trái tim là cơ phận được h́nh thành đầu tiên và chết cũng sau cùng -
theo nhận định của Ba-luy-a Ben Ác-sơ (Balua Ben Asher) hồi thế kỷ XVIII nên yêu mến Thiên Chúa hết trái tim có nghĩa là yêu mến Ngài cho đến hơi thở cuối cùng.
Trái tim c̣n là sức kéo của lương tri kêu gọi hăy bắt chước Chúa Ki-tô và Mẹ Ma-ri-a trong một thời đại củà những kiến trúc bằng sắt thép và xi măng
có nguy cơ đánh mất ư nghĩa t́nh
huynh đệ và tinh thần trách nhiệm, những trái tim trên ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ là một liệu pháp thiết yếu giúp cho nhân loại sống c̣n.
5. Vai Tṛ Kết Ba về Mặt Thời Gian
Giải thích biểu tượng trên ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ hiện vẫn c̣n đó là một vấn đề, về mặt ư nghĩa cũng như nội dung. Nhưng xét là một biểu trưng đặc biệt (là ảnh vảy), ảnh vảy Đức Mẹ mang một vai tṛ kết ba về mặt thời gian: gợi lại (quá khứ), giăi bày (hiện tại), và bảo vệ (tương lai).
a) Ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ là một vật kỷ niệm v́ nhắc lại biến cố cứu độ. Trên kim loại có h́nh ảnh Đức Mẹ hiện ra với nữ tu Ca-ta-ri-na
La-bu-rê, đó là một sự gặp gỡ giữa thời gian với vĩnh hằng, giữa trời với đất, một sự can thiệp của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử qua sự trung gian của Đức Ma-ri-a.
b) Ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ là một lời mạc khải v́ nó truyền đạt một sứ điệp. Theo cha Lô-ran-tanh
và cha Rốc (R. Laurentin, P.
Roche): “Mặt trước biểu tả ánh sáng của Ngài. Mặt sau biểu tả phương diện tu đức và ẩn kín của sứ điệp đó là t́nh yêu và
Thập Giá, những nguồn ơn cứu độ đă được thể hiện qua cuộc Tử Nạn của Chúa và sự hiệp thông của Mẹ mà mọi người đều được mời gọi thông phần.”
c) Ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ là một dấu chỉ tín thác vào sự bảo bọc của Thiên Chúa. Người ta có thể coi nó như một tấm thuẫn của các binh sĩ
được thu
nhỏ. Nó hứng khởi chúng
ta hăy sống
đạo
đức
và tạo
nên một
tập
thể
lấy
dấu
hiệu
ấy
làm biểu
hiệu.
Người ta
không thể
hạ
thấp
giá trị
của
chức
năng kết
ba của
hiệp
thông, giăi bày và bảo
vệ của ảnh vảy Đức Mẹ Hay Làm
Phép Lạ.
Về
mặt
biểu
tượng ảnh vảy mang ư nghĩa vô cùng phong
phú. Chúng ta phải biết cách nh́n sao cho hiểu được và chú thích các biểu tượng ấy hoặc qua biểu tượng
học
hoặc
qua thái độ
suy niệm
b́nh dân. Chúng ta có thể coi ảnh vảy như một không gian bầu dục giới hạn giúp tâm trí chúng ta
vươn lên và hướng về chính ḿnh, nhưng
trước hết giúp chúng ta tiếp xúc với thế giới bên kia với Đức Ma-ri-a và với một câu chuyện chứa chan hy vọng.
Đơ Phi-ô-rê