Bối cảnh
lịch sử của biến cố Fatima:
Sự bùng nổ của phong
trào cộng sản vô thần
Lm Nguyễn hữu Thy
Chúng
ta đă biết rằng vào năm 1917 v́ t́nh mẫu tử
đậm đà tha thiết đối với con cái loài
người, Mẹ Maria đă đích thân hiện ra tại
Fatima với ba trẻ chăn chiên đơn sơ thánh thiện
để qua trung gian của các em, Mẹ nhắn gửi
đến nhân loại Sứ Điệp khẩn cấp của
Trời Cao. Nhưng để hiểu rơ
được Sứ Điệp cao cả ấy, trước
hết chúng ta cần t́m hiểu bối cảnh lịch sử
của nó, tức hoàn cảnh thực tiễn cụ thể
của xă hội vào lúc Đức Mẹ công bố Sứ
Điệp của Ngài. Hay có lẽ nói
đúng hơn, hoàn cảnh thực tiễn cụ thể của
xă hội đă đ̣i buộc Đức Mẹ phải
công bố những biện pháp cần thiết để
giúp cho các con cái loài người của Mẹ có điều
kiện ứng phó kịp thời và hữu hiệu. Đó chính là sự bùng nổ của phong trào cộng
sản vô thần tại Mạc-tư-khoa, thủ đô
nước Nga.
Đúng
vậy! Nếu quả thực Ernst Hello có lư khi ông đă có
lần viết rằng sự sợ hăi là con đẻ của
tội lỗi, th́ chúng ta sẽ hiểu rơ được tại
sao bộ mặt của thời đại chúng ta ngày nay
đang biểu lộ một sự sợ
hăi mà không sao diễn tả hết bằng lời
được, th́ bấy giờ chúng ta mới ư thức
được rằng điều kiện để có thể
vượt lên trên được sự sợ hăi đó
chính là phải nh́n nhận tội lỗi của ḿnh,
tương tự như Ét-ra trong khi dâng Của Lễ Chiều
Hôm lên bàn thờ Thiên Chúa, đă công khai xưng thú tội bất
trung của dân tộc ông: «Lạy Chúa, con thật xấu
hổ thẹn thùng khi ngẩng mặt lên Ngài. Lạy Chúa,
v́ tội chúng con quá nhiều, đến nỗi ngập
đầu ngập cổ, tội lỗi chúng con cứ chồng
chất lên măi tới trời. Từ thời tổ tiên
chúng con cho tới ngày nay, v́ chúng con đă mắc tội nặng
nề và phạm tội, …nên chúng con đă bị nộp cho
gươm giáo, phải đi đày, bị cướp bóc
và bẽ mặt xấu hổ như ngày nay» (Er 9,6-7).
Đi
vào cụ thể, tội lỗi của lục địa
Âu Châu, «một nơi ánh sáng văn minh Kitô giáo từng
đă chiếu tỏa trong bao thế kỷ qua »(1), chính là đă loại bỏ
căn tính Kitô giáo của ḿnh để hoàn toàn chạy theo
vật chất, tôn thờ vật chất và t́m cách tục
hóa mọi lănh vực trong các sinh hoạt xă hội của
ḿnh. Trong Thông điệp đầu tay của ngài gởi
toàn thế giới khi vừa lên ngôi Giáo Hoàng, ĐTC Piô XII
đă so sánh bóng đêm tội lỗi đang bao trùm lấy
nhân loại với sự tối tăm đă phủ xuống
trên khắp nơi khi Đức Giêsu tắt thở trong
đau thương trên Thánh giá (x.
Mt 27,45). Trong
bức Thông điệp đó, Đức Piô XII cũng cho
thấy rằng thế giới Kitô giáo thời trung cổ
đă nhận ra được «những bất ḥa, những
xáo trộn và các cuộc chiến tranh», nhất là đă
nh́n nhận được rằng những tiêu cực
đó là hậu quả của tội lỗi. Trong khi
đó, thời đại tân tiến lệch lạc, vật
chất và vô thần ngày nay th́ ngược lại, đă tự
cho ḿnh hoàn toàn lành mạnh, ổn định và hợp lư
trong mọi lănh vực, từ lănh vực cá nhân cho đến
lănh vực xă hội.
Do
đó, cái thảm họa vô cùng nguy hại của kỷ
nguyên chúng ta ngày nay, trước hết không do ở chỗ
nó đă phạm bao tội lỗi và c̣n tái phạm nữa,
nhưng là do ở chỗ nó đă không nhận ra được
tội lỗi của ḿnh và không biết ăn
năn hối cải. Như thế, kỷ nguyên ngày nay của
chúng ta đă phạm một tội vô cùng nặng nề
đến nỗi không thể tha thứ được,
đó chính là tội đă xúc phạm đến Chúa Thánh Thần
(x. Mt 12,31). Và cũng v́ vậy, thế kỷ XX
đă trở thành kỷ nguyên của phong trào cộng sản
vô thần, mà các hậu quả tai hại của nó c̣n kéo
dài đến ngày nay, mặc dù đế quốc đỏ
Sô Viết đă hoàn toàn tan ră.
1. Bản tuyên ngôn của phong trào cộng sản
Bản
tuyên ngôn của phong trào cộng sản được công
bố vào tháng 2 năm 1848 tại Luân Đôn/Anh Quốc,
đă một thời là khởi đầu của niềm
hy vọng tràn trề cho một cuộc cách mạng trên khắp
thế giới trong tương lai, là bản kinh Tin Kính
đầy hứa hẹn cho giai cấp vô sản, cho những
người vô gia cư, bần cùng đói khổ. Người
ta có thể nói được rằng đó là một bản
Tin Mừng vẹn toàn, bất khả ngộ, cho công cuộc
cách mạng đổi mới xă hội nhân loại với
một niềm xác tín mới: Con người chiếm giữ
quyền lực tuyệt đối, ngoài con người ra
không c̣n ǵ nữa! Đúng như Ludwig Feuerbach (1804-1872), triết
gia vô thần người Đức đă khẳng định:
«Homo hominis Deus est» - con người là Thiên Chúa của con
người!
Nhưng
người ta cũng phải xác nhận rằng bản
tuyên ngôn cộng sản này không phải là một bản
văn chứa đựng tính cách khoa học cũng không phải
là một sự biểu lộ quan điểm cá nhân của
tác giả. Trước hết, bản tuyên ngôn là một bản
cáo trạng, mănh liệt lên án chống lại sự áp chế
của một trật tự xă hội theo hệ thống
chủ nghĩa cá nhân tự do, đă thẳng tay bóc lột
tầng lớp nghèo và tạo điều kiện cho tầng
lớp giàu càng giàu thêm.
«Hỡi
tầng lớp công nhân thợ thuyền trên khắp thế
giới, hăy đoàn kết lại! Hăy làm cho thế giới
phải rùng ḿnh khiếp sợ trước cuộc cách mạng
cộng sản!»
Đó
là một trong những lời hô hào ở Luân Đôn xưa kia, được gởi tới tầng lớp
công nhân ở Âu Châu và trên khắp thế giới, là phải
đứng lên đạp đổ chế độ phong
kiến và bẻ găy ách nô lệ. Đó cũng chính là dấu
hiệu manh nha cho công cuộc đấu tranh giai cấp
đẫm máu trong tương lai, một cuộc đấu
tranh đă từng để lại những hậu quả
vô cùng tang thương, bi thảm và vô nhân đạo tại
một số lớn các nước trên thế giới, nhất
là tại Nga Sô, tại Đông Âu, tại Trung Cộng hay tại
các nước cộng sản khác, đă khiến cho hàng triệu
người dân lành bị chết cách oan uổng. Cũng v́
thế, ở miền Bắc Việt Nam
vào các năm 1953-1954, sau khi nhà
nước ra chính sách «Cải cách ruộng
đất và phát động quần chúng đấu tranh»,
hàng trăm ngàn người dân lành đă bị ghép vào thành
phần «địa chủ bóc lột» hay «cường
hào ác bá», và đă bị đấu tố trước
các ṭa án nhân dân, bị đày ải khổ sai chung thân hay bị
xử tử cách bất công, khiến nhà nước đă
phải ra chính sách «Sửa sai», để làm nguôi sự
căm phẩn của dân chúng.
Chính
do tinh thần đấu tranh giai cấp quá khích, người
ta đă không ngần ngại biện minh cho bao cuộc nội
chiến quốc-cộng (quốc gia và cộng sản) thảm
khốc tại một số lớn các nước, khiến
cho bao gia đ́nh: con cái mất cha, vợ mất chồng,
cha mẹ mất con trai. Những sự cố
đó đánh dấu sự khởi đầu công khai của
kỷ nguyên phong trào cộng sản.
Dĩ
nhiên, người ta sẽ thiếu khách quan khi t́m cách cho rằng
phong trào chống đối lại sự đàn áp và bóc lột bất công do những người
cộng sản khởi xướng là hoàn toàn xấu và tiêu
cực. Chính Đức Giáo Hoàng Piô XI trong Thông điệp gởi
thế giới để chống lại phong trào cộng
sản vô thần, cũng đă phải nh́n nhận rằng
người ta không khỏi ngạc nhiên khi chứng kiến
chủ thuyết cộng sản đă mạnh mẽ lan rộng khắp nơi, bởi v́ với một
lư tưởng sai lầm về sự công bằng và quyền
b́nh đẳng, phong trào cộng sản đă thực sự
chống lại những bất công trong xă hội và nhất
là đă hứa hẹn sẽ xóa bỏ những bất công
đó cũng như sẽ cải thiện cuộc sống
của giai cấp công nhân(2).
Đức Giám Mục Fulton Sheen đă thẳng thắn
nh́n nhận rằng mặc dù là một ư thức hệ vô
thần, nguồn gốc của chủ thuyết cộng sản
đă xuất hiện như một sự hiện thực
cách mạng trong một thế giới Tây phương tội
lỗi. Ngài viết: «Thế giới Tây
phương chịu trách nhiệm về sự xuất hiện
của triết lư chủ thuyết cộng sản và về
cuộc cách mạng cộng sản. Trong toàn
thể nền triết học cộng sản không hề
t́m thấy một ư tưởng nào có tính cách Nga Sô cả.
Xét từ bản chất của nó, nền triết học
đó hoàn toàn mang tính cách trưởng giả tây
phương, duy vật và tư bản.»(3).
Đúng vậy, chính thế giới Tây phương chắc
chắn phải chịu trách nhiệm về t́nh trạng tồi
tệ thảm hại của giai cấp công nhân cách đây
hơn hai thế kỷ. Nikolai Berdjajew (1874-1948), triết gia
người Nga về tôn giáo và lịch sử, đă có lư
khi ông đánh giá chủ thuyết cộng sản là một
sự biến dịch cụ thể của những sứ
mệnh bất thành nơi Kitô giáo, ông viết: «Khi chê
trách những người cộng sản là vô thần và
đàn áp chống đối tôn giáo, các Kitô hữu không thể bắt
những người cộng sản phải gánh chịu
trách nhiệm một ḿnh về làn sóng vô thần đó
được. Khi phải ra đứng trước toà án
tối cao, các Kitô hữu chắc chắn sẽ không thể
là quan toà hay kẻ tố cáo được, nhưng là xuất
hiện như những tội nhân đầy thống hối»(4).
Khuynh
hướng tục hóa càng ngày càng bành trướng của
năo trạng Âu Châu, vốn đă bắt nguồn từ thời
phục hưng và thực sự đă đạt tới tột
đỉnh của nó vào đầu thế kỷ 19 và rồi
qua triết học và qua toàn bộ văn chương trong
hàng chục thập niên qua, đă được coi như
một h́nh thức bày tỏ tư tưởng và thái độ
sống một cách duy nhất bất khả kháng. Qua sự
chối bỏ Thiên Chúa, con người vào thế kỷ 18
đă tuyên bố loại trừ tất cả mọi tính
chất luân lư đạo đực do tôn giáo truyền bá. Sự
phân biệt giữa tốt và xấu theo
quan niệm cổ truyền bị băi bỏ, nếu không
nói là hoàn toàn bị phủ nhận. Tốt là điều
làm lợi cho con người, c̣n xấu là điều làm hại
con người. Giai cấp chiếm hữu mới
phủ nhận một cách vô ư thức trách nhiệm bó buộc
của luật luân lư Kitô giáo trong tất cả mọi lănh
vực của đời sống thương mại và
đời sống kinh tế. Giai cấp chiếm hữu
c̣n chối bỏ mọi can thiệp của Nhà Nước
vào trong các nghiệp vụ buôn bán của họ, v́ họ
đă quan niệm lầm lẫn
về quyền tự do cá nhân của ḿnh.
Vâng,
người ta c̣n biện minh cho cả những cách thức
thu tích của cải trần thế một cách bất công
trên sự đau khổ của đồng loại với
những ngụy biện giả dối
cho rằng sự giàu có thịnh vượng là dấu chỉ
hữu h́nh sự kén chọn đặc biệt của
Thiên Chúa, c̣n sự đói nghèo rơ ràng là sự chúc dữ của
Thiên Chúa(5). Như thế, Phúc Âm Đức Giêsu Kitô hoàn toàn mất
hết giá trị và không c̣n đất đứng nữa,
và phải nhường chỗ cho chủ nghĩa vật chất
thô thiển. Cả đến lời
chúc phúc cho tinh thần nghèo khó của Phúc Âm cũng bị loại
bỏ và được thay thế vào đó là sự thần
thánh hóa việc chiếm giữ của cải vật chất
đời này. Như vậy, qua đó
các giá trị luân lư Kitô giáo bị phá đổ. Điều
đó cho thấy rằng bây giờ - xét một cách tổng
quát - sự tiến bộ mang tính cách đa dạng và bất
ngờ trong lănh vực kỹ thuật rất có thể là một
rào cản cho sự thăng tiến của con người
trong lănh vực luân lư và đạo
giáo.
Đàng khác, một số lớn quần chúng nhân
dân cũng đă tỏ ra xa lạ với Giáo Hội. Bởi vậy, họ đă dễ dàng bị lôi cuốn
bởi những lư thuyết và chủ trương sai lầm
đó và họ đă thích thú đón nhận chúng như một
học thuyết mới mẻ. Về điểm này,
Đức Giáo Hoàng Piô XII đă viết: «Có lẽ nhiều
người đă không ư thức được khi ĺa bỏ
giáo huấn của Đức Kitô là sẽ bị thu hút và bị
lôi cuốn bởi những h́nh ảnh giả dối mới
mẻ khác trong những cách thức tŕnh bày hấp dẫn. Những
cách thức tŕnh bày đó đă coi sự ĺa bỏ giáo huấn
của Đức Kitô như một sự giải phóng khỏi
ṿng nô lệ từng giam cầm con người từ
trước tới nay. Nếu thế, hoặc họ
đă không nh́n thấy trước được những
hậu quả đau đớn khi người ta t́m cách thực
hiện một sự thay đổi thật đáng buồn
giữa sự thật có khả năng giải phóng con
người, với sự sai lạc chỉ chực nô lệ hóa con người; hoặc họ
đă không nghĩ rằng ai chối bỏ luật lệ
vô cùng khôn ngoan và đầy t́nh phụ tử của Thiên
Chúa cũng như chối bỏ giáo huấn luôn có tác dụng
hợp nhất và nâng cao con người của t́nh yêu Đức
Kitô, th́ sẽ vô t́nh bị rơi vào ách độc đoán của
một sự khôn ngoan nghèo nàn giới hạn và hay thay đổi
của phàm nhân. Một đàng người ta
nói đến sự tiến bộ, nhưng đàng khác
người ta lại làm điều thụt lùi; từ t́nh
trạng phát triển, người ta lại hạ thấp
xuống; từ sự tiến lên cho tới tột đỉnh
cao, người ta lại trở thành nô lệ. Người
ta đă không chịu nhận ra rằng tất cả mọi
nỗ lực vất vả của con người trong việc
t́m cách thay thế luật lệ Đức Kitô bằng luật
lệ phàm nhân, sẽ là một việc làm hoàn toàn vô
ích »(7).
Và
người ta đă không chờ đợi lâu những hậu
quả tai hại cụ thể của sự
thoái hóa đó. Qua sự đàn áp vẫn được tiếp
tục kéo dài trong một chế độ tư bản kiểu
mới với chiếc «mặt nạ dân chủ», các
tầng lớp công nhân vẫn nghèo, vẫn phải tiếp
tục sống trong sự khốn cùng và vẫn mang nặng
trên ḿnh nỗi lo lắng cho miếng cơm manh áo của cuộc
sống hằng ngày. Như vậy, ngày nay bên
cạnh giai cấp trưởng giả vô thần lại
xuất hiện thêm giai cấp vô sản vô thần nữa.
Và qua đó sân khấu cho thảm họa của
cuộc cách mạng thế giới đă được
dàn dựng. Nếu Đức Giáo Hoàng Piô XI đă có lần
gọi t́nh trạng đó là «X́-căn-đan của thế
kỷ», th́ nay đă trở thành thực tại cụ thể.
Nhiều người công nhân là tầng lớp
đă quay lưng lại với Giáo Hội, đă bỏ
đạo. Họ đă xa ĺa tôn giáo chân chính của
Đức Giêsu Kitô đă từ Trời Cao mang đến
và cúi đầu chạy theo một thứ
tôn giáo hăo huyền của Các-Mác và Ăng-ghen. Những
người công nhân bồng bột đó gia nhập phong
trào cộng sản vốn thù nghịch chống đối
Tôn Giáo, mà biểu tượng không phải là tượng
Thánh Giá, nhưng là liềm búa.
Bản
tuyên ngôn cộng sản năm 1948 không những đă kích
động được con tim của
tầng lớp công nhân, nhưng c̣n cống hiến cho họ
một chương tŕnh hành động cụ thể, dễ
hiểu và khả thi. Những người
công nhân vốn từng bị khinh bỉ và bị xúc phạm
một cách vô cùng đau đớn, bỗng nhiên giờ
đây lại t́m gặp được ư nghĩa sâu xa cho
cuộc sống bất hạnh của ḿnh. Họ nh́n
thấy được lư tưởng của đời
ḿnh không phải được ghi tạc tận các ngôi sao
trên ṿm trời, nhưng đang nằm gọn trong bàn tay một
cách rơ ràng và cụ thể; một lư tưởng mà họ
có thể diễn tả được bằng những lời
nói đơn sơ, bằng những khẩu hiệu đầy
quyến rủ, và nhất là v́ lư tưởng đó họ
c̣n có thể hăng hái lao động không chút mệt mỏi,
c̣n có thể chấp nhận chịu đau khổ và sẵn
sàng chấp nhận cả cái chết nữa. Ngay cả khi
phải đối mặt với một hoàn cảnh vô cùng
khó khăn, hầu như bất khả chịu đựng,
họ vẫn cảm thấy như được chính lư
tưởng đó nâng đỡ và d́u dắt, họ vẫn
cảm nhận được tận sâu trong đáy linh hồn
ḿnh sức mạnh của một sứ mệnh thiêng liêng,
cao cả và mới mẻ củng cố, đó là: Họ cần
phải giải phóng thế giới ra khỏi mọi bất
công và thiết lập lại một thiên đường
đă bị đánh mất: Thiên đường cộng sản!
2. Học thuyết cộng sản
Dựa trên nền tảng duy vật
biện chứng, học thuyết cộng sản cho rằng
ḍng lịch sử nhân loại hoàn toàn lệ thuộc vào sự
đồng nhất và bất đồng của những lực
lượng đối kháng, và cũng v́ thế, tinh thần
bản tuyên ngôn cộng sản năm 1848 đă hoàn toàn loại
trừ tất cả mọi giải pháp ôn ḥa trong lănh vực
cách mạng xă hội, đồng thời gạt bỏ tất
cả mọi h́nh thức dung ḥa dựa theo sự hợp
lư của sự việc như một hành động thiếu
thực tế. Tinh thần cách mạng theo
chủ thuyết cộng sản không bao giờ chấp nhận
biện pháp nửa vời, tức biện pháp ḥa giải
hay dung ḥa. Trong trường hợp nếu có
ḥa giải, th́ đó cũng chỉ là một giải pháp vá
víu tạm thời và chỉ có tính cách chiến thuật
trong khi chờ đợi thắng lợi cuối cùng mà
thôi. Cách mạng cộng sản chân chính
là phải phá đổ hoàn toàn cái cũ tận nền móng,
để xây dựng lên cái mới trên một nền móng mới.
Nói cách khác, giai cấp tư bản và giai cấp công nhân vô
sản không thể cùng đội trời chung.
Một trong hai giai cấp đó bắt buộc phải hoàn
toàn bị đào thải hay hoàn toàn bị loại trừ,
và nhất định đó phải là giai cấp tư bản.
Bởi vậy, công cuộc phát động
mặt trận đấu tranh giai cấp giữa chủ
nghĩa tư bản và tầng lớp công nhân cần phải
được hiện thực như một đ̣i hỏi
cấp bách của sự diễn biến và tiến triển
lịch sử, trong đó không loại trừ tính cách bạo
động. Vâng, để
đẩy nhanh cuộc chiến thắng sau cùng của tầng
lớp vô sản và để thiết lập được
một xă hội mới vô giai cấp, tất cả mọi
phương tiện chẳng những đều được
coi là hợp pháp, mà c̣n cần thiết phải sử dụng
nữa, nếu như t́nh huống đ̣i hỏi, v́ tất
cả «cuộc thánh chiến đó chỉ nhắm phục
vụ sự tiến bộ của nhân loại»(8).
Qua đó, chúng ta thấy rằng một
động lực khủng khiếp, phát xuất từ học
thuyết chủ nghĩa duy vật biện chứng sử
quan đă được thành h́nh. Đức Giáo Hoàng Piô XI đă thẳng
thắn gọi đó quả là «một chủ thuyết
thần bí đă khéo léo biết dùng những lời hứa
hăo huyền để lôi kéo các tầng lớp quần chúng
hào hứng chạy theo ḿnh»(9).
Chủ thuyết thần bí hay người ta cũng có thể
gọi là sự mong đợi được giải thoát
này thực ra là một đóng góp của năo trạng người
dân Nga lúc bấy giờ vào công tŕnh xây dựng lên ṭa nhà chủ
thuyết cộng sản. Walter Schubart đă so
sánh thái độ của năo trạng người dân Nga
như là một sự tự hiến, ngược lại
với sự tự chủ của người Tây Âu.
Tự thẳm sâu trong đáy ḷng ḿnh, người
Nga sống thiên về t́nh cảm hơn là lư trí. Cũng v́ thế, chủ thuyết duy vật khô khẳng
phát xuất từ Tây Âu lẽ ra khó ḷng đâm rễ sâu
được vào quan niệm của người Đông
Âu như Nga Sô. Hơn nữa, v́ người Nga sống
thiên về t́nh cảm, chứ không nặng óc suy lư theo khoa học tự nhiên, nên thường dễ
bị ảnh hưởng bởi những sự kỳ bí
lạ lùng. V́ thế, người Tây Âu nhiều khi đă
không khỏi bỡ ngỡ trước bản tính hay thay
đổi thất thường của người Nga. Hơn
nữa, khác với bản tính tự lập và thiên về
cá nhân của người Tây Âu, người Nga mang nhiều
sắc thái đoàn thể xă hội hơn và luôn mong muốn
cho xă hội nơi ḿnh sinh sống phải đạt
được t́nh trạng hoàn hảo. V́ thế,
một khi xă hội đó không đạt tới được
mức độ hoàn hảo lư tưởng như họ
mong muốn, th́ họ tỏ ra bất đồng và giận
dữ, và họ hăng say đem hết mọi nỗ lực
để cải thiện. Đó cũng là lư do tại
sao văn hào cách mạng Fjodor M. Dostojewskij (1821-1881)
được gọi là «nhà triết học vĩ đại
nhất của nước Nga»(10).
V́
lư do đó, thời gian từ hậu bán thế kỷ XIX
đến gần hết hậu bán thế kỷ XX mà chúng
ta đang đề cập đến ở đây, phải
được gọi là kỷ nguyên cộng sản, bởi
v́ chủ nghĩa Mác-xít đă t́m gặp được tại
Nga Sô chỗ đứng vững chắc và thuận lợi
cho học thuyết cách mạng về kinh tế và xă hội
của ḿnh.
Một
cách khách quan mà nói, những người cha đẻ của
chủ nghĩa cộng sản không hề nghĩ rằng học
thuyết cách mạng vô sản mang tính cách toàn cầu của
họ lại có thể t́m gặp được Nga Sô
như là một «bản doanh» hay như một «ng̣i
châm» cần thiết. Thực ra, dựa theo nền tảng
của học thuyết cộng sản, th́ ngọn lửa
cách mạng phải được bùng cháy trước hết
tại các nước có nền kỹ nghệ hàng đầu
thế giới ở Tây Âu, tức là một nơi những
căng thẳng và mâu thuẩn giữa tầng lớp
tư bản và tầng lớp công nhân đă lên đến
tột đỉnh. Trong khi đó, người
ta có thể nói được rằng Nga Sô vào lúc bấy giờ
hăy c̣n là một nước nông nghiệp lạc hậu.
Nhưng
dưới các triều đại thối nát của Nga
Hoàng bất tài lúc bấy giờ, Nga
Sô bị rơi vào một t́nh trạng cực kỳ khó
khăn: Xă hội và nền kinh tế của đất
nước hoàn toàn bị băng hoại, bị phá sản.
Và thảm họa to lớn cuối cùng đă thực sự
xảy ra, là vào đúng khi đức tin Kitô giáo đă từ
lâu chỉ c̣n hiện diện trên h́nh thức, c̣n trong thực
tế đă trở nên xa lạ và mất hết sức lôi
cuốn đối với đại đa số người
dân, th́ nước Nga - v́ muốn đạt được
những canh tân kinh tế và xă hội cần thiết - bó
buộc phải chạy theo các nước Tây Âu, những
nước mà vào lúc bấy giờ cũng đang đem hết
mọi nỗ lực vào công cuộc cải cách xă hội và
kinh tế, nên càng ngày càng lơ là và bỏ bê lănh vực tôn
giáo(11); trong khi đó các luồng tư tưởng
cấp tiến, tự do và vô thần lại bành trướng
mạnh mẽ.
Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác-xít
duy vật đă được xâm nhập vào nước
Nga như một miền đất ph́ nhiêu mầu mỡ.
Và do sự nối kết chặt chẽ giữa chủ
nghĩa duy vật Tây Âu với nguyện vọng mong
được giải thoát của Đông Âu, một phong
trào quá khích đẫm máu đă bùng nổ như chúng ta
đă từng chứng kiến trong suốt lịch sử
Liên Sô và các nước cộng sản chư
hầu kể từ năm 1917.
Như vậy, từ những học thuyết cộng
sản về kinh tế và xă hội đă dần dà biến
thành một thứ đức tin cộng sản. Bởi
vậy, Hamish Fraser, một đảng viên cộng sản kỳ
cựu đă viết: «Một sự kiện quá rơ ràng là
nước Nga Sô Viết được coi như biểu
tượng cụ thể của đức tin mang tính cách
thiên sai, một đức tin tiềm ẩn trong chủ
nghĩa Mác-xít cách mạng»(12).
Ngoài
Đức GM Fulton J. Sheen, c̣n có Linh Mục Gustav A.
Wetter, ḍng Tên - qua các sách báo và các bài thuyết tŕnh của ngài
– cũng đă lôi kéo sự chú ư của Tây Phương về
tính chất ngụy tôn giáo của chủ nghĩa duy vậy
biện chứng sử quan(13). Linh Mục
G.A. Wetter đă tŕnh bày cho thấy chủ nghĩa duy vật
biện chứng hoàn toàn khác với chủ nghĩa duy vật
thông thường, v́ nó mang tính cách loại trừ hoàn toàn niềm
xác tín tôn giáo. Nói cách khác, vật chất
được thay thế cho Thiên Chúa, nghĩa là vật chất
được đặt vào địa vị Thiên Chúa.
Vật chất là Thiên Chúa. Vật
chất là sự thiện hảo tối thượng; ngoài
vật chất ra không c̣n ǵ tốt lành nữa. Trong một sự phát triển liên tục và không
bao giờ ngừng, vật chất sản xuất ra từ
đời đời tất cả những ǵ đang hiện
hữu, kể cả tinh thần. Khả năng sáng tạo
của sự tiến hóa vô tận này – một sự tiến
hóa luôn t́m tiến tới sự hoàn hảo cao độ -
là chính vật chất mang tính cách nội tại, nghĩa là
vật chất tự hiện hữu và tự tồn tại
trong chính ḿnh.
Qua
đó, người ta thấy rằng, theo
chủ nghĩa duy vật biện chứng th́ không hề có
đệ nhất tác nhân ngoại tại, mà Kitô giáo gọi
là Thiên Chúa. Tự bản chất của nó, vật
chất là Thiên Chúa của chính ḿnh; vật chất
được vận hành bởi những sức mạnh
đối kháng nội tại trong chính ḿnh. Chính những sức mạnh đối kháng đó
luôn luôn tự sản sinh ra không ngừng và nhờ thế
chúng đă sản xuất ra được khả năng
cần thiết cho sự phát triển cao độ.
Điều
đó dẫn tới một hậu quả là chủ
nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tất cả
mọi hữu thể đều «từ dưới»
mà có, ngược lại với giáo lư của Kitô giáo vốn
dạy rằng vũ trụ được tạo dựng
nên «từ trên», tức do một vị Thiên Chúa, Đấng
tự hữu và hằng hữu, ngoại tại và vượt
trên vật chất.
Nếu
Phúc Âm Kitô giáo quả quyết: «Từ ban đầu
đă có Ngôi Lời», th́ chủ nghĩa duy vật biện
chứng lại khẳng định: «Từ ban đầu
đă có vật chất». Cả hai, Kitô giáo
và chủ nghĩa cộng sản, đều nhắm tới
việc giải phóng con người và tự thần thánh
hoá chính ḿnh như mục đích sau cùng. Tuy
nhiên, cả hai lại t́m đạt tới mục đích
bằng những cách thế và trong những t́nh huống
hoàn toàn khác nhau.
Kitô giáo mong đợi sự giải
thoát con người khỏi ṿng nô lệ của tội
nguyên tổ «từ trên cao», như là ơn thánh của
Thiên Chúa ban cho. Trong khi
đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng lại chờ
đợi sự giải phóng như hiệu quả chín mùi
của một sự phát triển «từ dưới thấp»,
nghĩa là từ phía con người. Nói cách khác, đối
với người Kitô hữu, sự giải thoát khỏi
tội lỗi là ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa
ban; trái lại, đối với người cộng sản,
sự giải phóng nhân loại khỏi tội nguyên tổ
của hệ thống tư bản, phải là kết quả
tất yếu của những phát triển thuần túy nhân
loại. V́ thế, hậu quả chối bỏ sự hiện
hữu của Thiên Chúa là một điều không thể
tránh được, như Linh Mục Wetter đă viết:
«Chính sự thể đó chứng minh cho thấy rằng,
khi tranh đấu dưới ngọn cờ duy vật biện
chứng sử quan, chủ nghĩa cộng sản
đương nhiên tự coi ḿnh có thể trở thành một
thể loại tương tự tôn giáo, và v́ thế phải
t́m cách loại trừ bằng bất cứ giá nào mọi
h́nh thức tôn giáo khác. Ngoài vị thần duy nhất là vật
chất với tất cả những yêu sách tuyệt đối
của nó, chủ nghĩa cộng sản không chấp nhận
bất cứ thần thánh nào khác nữa»(14).
Và như trong các cuộc đấu tranh
cụ thể cho công cuộc cách mạng toàn cầu, trong sự
xung đột về ư thức hệ của kỷ nguyên cộng
sản cũng không thể có sự dung ḥa được. Chỉ có hai mặt trận, đó là:
1.
Một bên là lời mời
gọi của đức tin Kitô giáo, của ḷng tin tưởng
phó thác và của t́nh bác ái, với khẩu hiệu: «Ta là
Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi.»
2.
Một bên khác là ḷng kiêu
hùng và sự hận thù bất ḥa giải trước giai cấp
đối kháng của ḿnh, với khẩu hiệu ngược
lại: «Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ta.»
Đó
là hai quan điểm hoàn toàn đối kháng nhau và v́ thế
chúng sẽ không bao giờ có thể đi tới một sự
ḥa hợp hay một thỏa hiệp sống chung chân thành
và bền lâu. Giữa hai bên sẽ không bao giờ
có sự đồng hữu thực sự. Vâng, xét về
mặt lư thuyết, về mặt ư thức hệ hay giáo
lư, th́ khoảng cách giữa Kitô giáo và chủ nghĩa cộng
sản là quá lớn, khó có thể bắc lên một nhịp
cầu được. Tuy nhiên, trong lănh vực thực hành
của cuộc sống cụ thể hằng ngày, như việc
bài trừ các tệ nạn xă hội, việc lành mạnh
hoá xă hội, hay việc xoá đói giảm nghèo, xây dựng
nhân sinh, v.v… sự cộng tác giữa những người
cộng sản và những người Kitô hữu không những
là một điều có thể, nhưng c̣n là một điều
cần thiết và phải làm. Hơn nữa, ngày nay -
như chúng ta đều chứng kiến - ư thức hệ
cộng sản đă mất hết tính chất quá khích thủa
ban đầu và đang trên đường thoái hóa và biến
thể để tiến tới một tân chủ nghĩa
xă hội tự do; nhưng nhất là sứ mệnh Phúc Âm
hóa mà Chúa Cứu Thế đă trao phó cho Giáo Hội «các con
hăy đi khắp thế gian và làm cho muôn dân thành môn đệ
của Thầy» (x.Mt 28,19) không hề chủ trương phân biệt
màu da, chủng tộc, tôn giáo, ư
thức hệ hay chính kiến.
3. Thế giới cộng sản
Đối với chủ nghĩa cộng sản,
thế giới nhân loại đang ch́m đắm trong trầm
luân khốn khổ. Vâng, đối với người
Kitô hữu những bất hạnh do tội nguyên tổ
gây ra cho nhân loại thế nào, th́ đối với những
người cộng sản đó lại chính là hệ thống
kinh tế tư bản. V́ thế, để
đổi mới và kiện toàn thế giới, người
cộng sản thâm tín rằng ḿnh có bổn phận phải
tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa tư bản. Và phương tiện hữu hiệu để
hiện thực được những mục tiêu «thiêng
liêng» đó là cuộc cách mạng toàn cầu; c̣n tất
cả mọi phương tiện khác đều chỉ
dùng để phục vụ cho phương tiện trọng
yếu duy nhất đó mau đạt tới thắng lợi
sau cùng mà thôi. Tiếp đến, cũng
thế, tất cả mọi mục tiêu khác chỉ c̣n là những
mục tiêu thứ yếu trên con đường tiến tới
sự hoàn tất cuối cùng của một thế giới
đại đồng và vô giai cấp, một thiên
đường cộng sản. Về điểm này
một đảng viên cộng sản khác đă viết:
«Toàn bộ ư thức hệ của chủ nghĩa cộng
sản và bao gồm trong đó cả nền luân lư cộng
sản nữa, đều tùy thuộc công cuộc giải
phóng tầng lớp công nhân thợ thuyền. Mục tiêu sau
cùng của người cộng sản là xây dựng chế
độ cộng sản, là mang lại hạnh phúc tối
đa cho tầng lớp công nhân, và dĩ nhiên không chỉ
trong huyền thoại ảo tưởng, nhưng là thực
sự thiết lập một cuộc sống đầy
sung sướng hạnh phúc trên quả đất này. Cuộc chiến thắng của chủ nghĩa cộng
sản không tự nhiên mà có được, nhưng người
ta chỉ có thể đạt tới được sự
chiến thắng đó bằng cuộc xả thân đấu
tranh chống lại tất cả những sức mạnh
và những hủ tục phản động của thế
giới cũ. Trên con đường tiến tới
được mục tiêu cao cả và đúng đắn
đó với một mức độ tột đỉnh,
người ta cần phải có nhiều pháo đài kiên cố,
cần phải trung kiên trong các thử thách khó khăn và cần
phải hy sinh gian khổ nhiều. Đối với những
người chiến sĩ chiến đấu cho quyền
lợi của tầng lớp công nhân, chiến đấu
cho quyền lợi của tầng lớp thợ thuyền,
th́ việc chỉ thụ động ngồi chờ một
tương lai tốt đẹp sáng sủa và một niềm
hy vọng trống rỗng, hoàn toàn là một điều xa
lạ, không thể chấp nhận được. Các chiến
sĩ cộng sản không bao giờ chờ đợi sẽ
đạt tới được mục tiêu đấu
tranh của ḿnh bằng một khuôn mẫu có sẵn, chứ
không cần phải đấu tranh gian khổ và không cần
phải vất vả lao động.» Trên
đây là một đoạn quan trọng nói về vũ trụ
quan của chủ nghĩa cộng sản, được
trích từ bản Quốc Tế Hùng Ca «L’Internationnale»,
với những lời đáng ghi nhận như sau:
«Không Đấng nào cao cả cứu được
ta,
«Chẳng Thần thánh, chẳng vua chúa, chẳng quan
ṭa.
«Để thoát khỏi cảnh khốn cùng ô trọc,
«Tự chúng ta phải vùng lên tranh đấu, hỡi
các bạn!»(15).
Điều
đó chứng minh cho thấy rằng một người cộng
sản chân chính, nghĩa là một người cộng sản
đầy thâm tín về ư thức hệ của ḿnh, sẽ
không bao giờ có thể thay đổi được quan
điểm của ḿnh để tiếp nhận một
quan điểm khác v́ nhận ra quan điểm đó tốt
và hợp lư hơn quan điểm của ḿnh. Đối với
anh, hoặc chỉ có anh hiện hữu với quan điểm
ư thức hệ của anh, hoặc là anh phải chết,
chứ không thể có giải pháp thứ ba, chẳng hạn
như sự liên hiệp hay dung ḥa, v.v... Đó
chính là điểm quá khích và sai lầm của một ư thức
hệ. Và hậu quả tai hại của nó cũng
đă được chứng minh qua sự sụp đổ
hoàn toàn của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Sô
cũ và ở các nước Đông Âu vào đầu thập
niên 90 của thế kỷ trước. Ở đây
người ta nghi ngờ đặt ra một câu hỏi:
Giá như chế độ cộng sản ở Liên Sô và ở
Đông Âu khi ư thức được cao trào dân chủ của
con người hôm nay đang bùng lên như vũ băo, mà biết
tự canh tân và tự thích nghi với t́nh huống mới,
th́ có lẽ sự sụp đổ mau lẹ đó đă
không xảy ra? Nhưng sự thể đă không thế!
V́
vậy, phải chăng đó là một bài học đắt
giá mà các nước cộng sản cuối cùng hiện nay,
như Trung Quốc, Việt Nam và Cu-Ba đă biết lợi
dụng được, khi các nước này đang từ
từ loại bỏ một số lớn quan điểm
ư thức hệ ảo tưởng và sai lạc của
ḿnh, hầu không bị tụt hậu trong đà tiến bộ
nhảy vọt của cả nhân loại ngày nay, như chấp
nhận mở cửa hội nhập quốc tế, sống
chung ḥa b́nh với các dân tộc khác trong tinh thần b́nh
đẳng và tôn trọng lẫn nhau, loại bỏ chính
sách bao cấp độc đoán và chấp nhận nền
kinh tế thị trường tự do của tư bản,
v.v…?
Nhưng
điều đó lại kéo theo một thực tại mâu
thuẫn khác, đó là một khi chủ nghĩa cộng sản
từ bỏ mục tiêu chính yếu từng được
theo đuổi của ḿnh là thống trị thế giới,
cùng với phương tiện chủ yếu duy nhất
là cuộc cách mạng toàn cầu, và nhất là chủ
trương sống chung với chế độ tư bản,
nếu không nói là tự tư bản hóa chính ḿnh, th́ mặc
nhiên chủ nghĩa cộng sản đă tự tuyên bố
cáo chung và giải thể!
Nếu thế, phải chăng ngày nay chúng ta sẽ
không c̣n phải lo lắng bận tâm tới học thuyết
cộng sản nữa, một học thuyết đă từng
chi phối năo trạng và cuộc sống của gần một
phần hai nhân loại trong suốt trên dưới bảy
thập niên qua?
Dù
cho học thuyết cộng sản đă chính thức tự
giải thể, và nếu ngày nay c̣n hiện diện th́ chỉ
hiện diện trên giấy tờ và trên h́nh thức mà thôi,
nhưng người ta cũng đừng quên rằng, các ảnh
hưởng và các hậu quả tiêu cực hiện nay,
như: nền kinh tế của đất nước bị
rơi vào t́nh trạng lạc hậu, chậm tiến, bị
băng hoại, nhưng nhất là t́nh trạng luân lư và tôn
giáo hoàn toàn bị suy đồi phá sản, v.v…, do học
thuyết đó để lại ở Nga cũng như ở
các nước thuộc khối Đông Âu, th́ c̣n cần phải
nỗ lực trong rất nhiều thế hệ nữa mới
mong hàn gắn lại được phần nào. V́ thế, Đức GM Sheen đă có lần gọi
thế giới cộng sản là «thân ḿnh mầu nhiệm
của Antichristus».
Cuối
cùng, một điều quan trọng mà chúng ta không được
phép quên, là mọi biến cố - dù to hay nhỏ và dù quan trọng
hay tầm thường – đă, đang và sẽ xảy ra
trong vũ trụ, trong cuộc sống của từng
người hay của cả nhân loại, đều không xảy
ra ngoài sự an bài của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa
Toàn Năng, Đấng tự hữu và luôn hiện hữu
trong vũ trụ cũng như trong cuộc sống của
nhân loại và của mỗi người, dù cho nhân loại
có tin nhận và thờ kính Người hay không. Vâng, tất cả mọi sự xảy ra trong
vũ trụ này, đều nằm trong tầm kiểm soát
tuyệt đối và đầy uy quyền của Thiên
Chúa Toàn Năng.
Điều
đó được chứng minh rơ ràng qua hiện tượng:
Trong khi vào ngày 10.10.1917, Hội đồng Cách mạng Bôn-xờ-vít
ở Nga Sô đă nhất trí quyết định sẽ dùng
bạo lực tổ chức một cuộc nổi dậy
vào đêm 25. rạng ngày ngày 26.10.1917, để lật
đổ chế độ Nga Hoàng và thiết lập một
chế độ cộng sản vô thần, hoàn toàn chối
bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa, th́ vào ngày
13.10.1917, qua trung gian của Đức Trinh Nữ Maria, Thiên
Chúa đă công khai thực hiện một phép lạ vĩ
đại trước sự chứng kiến của hàng
trăm ngàn người trong khắp toàn vùng Fatima: Phép lạ
mặt trời vào đúng ngọ đă bỗng chốc quay
cuồng múa nhảy một cách kỳ lạ và bắn tung
toé ra chung quanh đủ mọi thứ màu sắc rực rỡ,
giữa những tiếng kêu la đầy hoảng hốt
sợ hăi của đám đông.
Phải
chăng khi Thiên Chúa đă công khai thực hiện một
phép lạ cả thể như thế - ngoài mục đích
là để mọi người tin sự kiện Fatima là
thật, như lời Đức Mẹ đă hứa cùng
ba trẻ - lại không muốn chứng minh rằng: Dù cho
con người có chối bỏ sự hiện hữu của
Người, th́ Thiên Chúa vẫn luôn c̣n đó, th́ Thiên Chúa vẫn
luôn là Thiên Chúa, vẫn luôn là Chúa Tể càn khôn, và vẫn luôn
là Thẩm Phán Tối Cao cầm quyền xét xử muôn dân
thiên hạ? Tiếp đến, sự thể chủ
nghĩa cộng sản vô thần ở Liên Sô cũ và ở
các nước Đông Âu bị sụp đổ toàn diện
vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước
và nước Nga đă thực sự ăn năn trở lại,
cũng chính là một chứng từ hùng hồn biện
minh cho sự kiện Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, đă
hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Fatima vào
năm 1917 để gởi tới toàn thể nhân loại
những sứ điệp quan trọng và khẩn cấp,
là một sự thật hiển nhiên. V́ chính tại
Trong
một cuộc phỏng vấn mới đây, Đức Hồng
Y Joachim Meisner, Tổng Giám Mục giáo phận Köln ở
Đức đă tâm sự: «Tôi chỉ biết đến
Fatima qua nghe nói mà thôi, nên tôi phải thú thật là tôi chẳng
thấy tâm hồn rung động ǵ cả. Nhưng v́ tôi mới
chuyển từ Berlin về Köln được 9 tháng,
trước khi chế độ cộng sản Đông
Đức sụp đổ, nên Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II đă nhờ tôi chủ sự cuộc hành
hương vĩ đại vào ngày 13.5.1990 tại Fatima, sau
khi chế độ cộng sản cáo chung. Ngài nói rằng
tôi là Giám Mục của Berlin, nên cũng làm Giám Mục của
hai hệ thống xă hội khác nhau, hệ thống cộng
sản và tư bản. Và Đức Thánh Cha nói: ‘Đức
Hồng Y rất xứng đáng chủ sự cuộc hành
hương
Nếu
vậy, ở đây, người ta có cần tự hỏi
nữa hay không, là: Phải chăng sự kiện chế
độ cộng sản thuộc khối Đông Âu, bắt
đầu từ Đông Đức, đă tự thoái hóa và
tan ră hoàn toàn cũng vào tháng 10 (năm 1989) chỉ là một
sự trùng hợp ngẫu nhiên
thuần túy nhân loại?
Nhưng
một điều mà người ta có thể khẳng
định được một cách chắc chắn rằng,
hai biến cố quan trọng có liên quan đến vận
mệnh và sự tồn vong của cả nhân loại, cùng
đă xảy ra vào tháng 10 năm 1917 – biến cố Đức
Mẹ hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Fatima và
cuộc nổi dậy của phong trào cộng sản vô thần
ở Nga Sô – phải có liên hệ chặt chẽ với
nhau, mặc dù hai biến cố đó mang trong ḿnh hai sứ
điệp của hai thế giới hoàn toàn đối
kháng:
* Một bên đă công khai minh chứng rằng,
ngoài thế giới vật chất hữu h́nh, c̣n có thế
giới siêu nhiên vô h́nh và vĩnh cửu nữa,
và qua đó chứng minh cách mặc nhiên sự hiện hữu
của Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng đă tạo dựng
nên con người và toàn thể vũ trụ, hữu h́nh
cũng như vô h́nh, trong t́nh yêu vô biên của Người. Chính
Người là Đấng chỉ muốn con người
luôn yêu thương nhau và tha thứ cho nhau, để cùng
nhau xây dựng một cuộc sống hạnh phúc ngay trên
cơi đời này.
* C̣n một bên khác lại khẳng định
chỉ có thế giới vật chất hữu h́nh mà thôi. Ngay từ khởi nguyên đă có vật chất, vật
chất đă hiện hữu và ngoài vật chất ra không
c̣n ǵ khác nữa. Qua đó, họ đă
phủ nhận hoàn toàn sự hiện hữu của Thiên
Chúa Tạo Hóa. Theo họ, tất cả
những ǵ xảy ra trong vũ trụ đều là kết
quả tất yếu phát xuất từ những sức mạnh
đối kháng nội tại tiềm ẩn trong vật chất,
chứ không do bất cứ một sức mạnh toàn
năng ngoại tại nào khác. Cũng v́ thế, để
thiết lập một thế giới lư tưởng và thuần
nhất, thế giới cộng sản đại đồng,
họ hoàn toàn dựa vào nguyên tắc đối kháng cố
hữu, tức sự đấu tranh giai cấp và loại
trừ giai cấp bằng bạo động.
Nhưng
ngày nay, tuy chủ nghĩa cộng sản không c̣n là mối
đe dọa nguy hiểm thực tiễn cho nhân loại
như vào đầu tiền bán thế kỷ XX nữa,
nhưng chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa hưởng
thụ, chủ nghĩa xác thịt, chủ nghĩa vô thần
và chủ nghĩa khủng bố đội lốt tôn giáo
do những phần tử Hồi giáo quá khích chủ xướng,
v.v…,vẫn luôn là những mối đe dọa vô cùng nguy hiểm
cho tương lai và cho sự hạnh phúc chân chính của
nhân loại hơn bao giờ hết. Bởi vậy, đối
với chúng ta, những con người ngày nay, những lời
nhắn nhủ đầy t́nh mẫu tử của Mẹ
Maria ở Fatima xưa kia, càng trở nên thời sự và khẩn
trương hơn bao giờ hết, đó là: Ăn năn
sám hối, cải thiện cuộc sống; Siêng năng cầu
nguyện và lần hạt Mân Côi mỗi ngày; Tôn sùng Trái Tim
Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
__________________
1.
Piô
XII: Thông điệp ‘Summi Pontificatus’, 20.10.1939.
2.
Piô
XII: Thông điệp ‘Divini Redemptoris’, 19.03.1937
3.
Fulton
J.Sheen: ‘Der Kommunismus und das Gewissen der westlichen Welt’. Morus-Verlag,
Berlin 1950, trang 68.
4.
Berdjajew:
‚Sinn und Schicksal des russischen Kommunismus’. Vita Nova-Verlag, Luzern 1937, trang 177.
5.
Christopher
Dawson: ‚Judgment of the Nations’, Sheel and Ward,
6.
Josef
Sellmair: ‘Bildung in der Zeitenwende’.
7.
Summi
Pontificatus, 20.10.1939.
8.
Divini
Redemptoris, 19.03.1937.
9.
như
trên.
10. Walter Schubart: ‚Europa
und die Seele des Ostens’. Vita Nova-Verlag, Luzern 1947, tr.107.
11.
Hamish
Fraser: ‚Fatal Star’, John S. Burns & Sons, Glasgow 1955, tr. 78.
12. như trên.
13. ‘Der Bolschewismus, eine
Ersatzreligion’, 3. Band der Kongresse ‘Kirche in Not.
14. Wetter SJ: ‚Der
dialektische Materialismus’, Herder-Verlag, tr. 577.
15. P.F. Kolonski:
‚Kommunistische und religiöse Moral’. Herausausgegeben als ‚Ein Dokument
antireligiöser Propaganda aus der Sowjetunion’, vom Bundesministerium für
gesamtdeutsche Frage, Bonn 1956
16. Zeitschrift der
Fatima-Aktion „Fatima Ruft“, số 194, 3/2006, trang 15.