NHỮNG
ƠN LẠ MẸ LAVANG BAN
Cha Giacôbê Nguyễn Linh Kinh làm cha
Sở Lavang (1948-1955) đă ghi lại phép lạ Mẹ ban
cho vua Khải Định như sau: Nhân dịp lễ tứ
tuần của vua Khải Định, bỗng dưng ngài
ngă bệnh đến độ trầm trọng. Các ngự y đều bất lực. Các bác
sỹ Pháp cũng bó tay. Lúc ấy
có viên quan xin tâu vua về việc cứu chữa linh thiêng của
Đức Mẹ Lavang và thỉnh cầu nhà vua t́m tới
xin ơn Đấng Thánh Mẫu. Vua Khải Định
liền cho mời cụ Nguyễn Hữu Bài vào điện
và xuống mạng cho cụ đi Lavang khấn xin cùng
Đức Mẹ. Vâng theo thánh dụ, cụ ra Lavang cầu
xin Đức Mẹ cho nhà vua được b́nh phục,
để ngày lễ tứ tuần ngài được vui vẻ
và khoẻ mạnh để tiếp đăi quan khách. Thực
thế, Đức Mẹ đă ban cho vua được
b́nh phục, v́ sau lễ tứ tuần, nhà vua đă cho
người đến Lavang tạ ơn Đức Mẹ.
Năm sau cũng vào dịp này vua bị ngă bệnh lại.
Vua lại sai cụ Bài đi khấn xin và mang thêm hai cây
đèn cầy lớn dâng kính Đức Mẹ. Tới
nơi cụ cho chưng đèn và thắp nến trước
bàn thờ Mẹ. Nhưng lạ thay, một cây đèn cầy
không chịu cháy, cho dù có sửa tim, cạo nến, ngọn
đèn cũng chỉ cháy lên leo lét một chút rồi vụt
tắt. Cụ bài luận rằng đó là dấu
Đức Mẹ cho biết, Mẹ chỉ nhận một
lần này nữa mà thôi, lần sau sẽ không được
nữa. Đúng thế, năm sau vua Khải
Định lại ngă bệnh và thăng hà trong chứng bệnh
hiểm nghèo ấy. (N.S.Đức Mẹ Lavang số
2 tháng 7,1962)
Ông bà Nguyễn khắc Nhân và Tôn
nữ thị Quyên, đă sinh được 3 người
con trai. Bà ao ước có thêm một cô Tôn nữ nữa, nên
bà thường khấn rằng: "Nêu Mẹ Lavang cho con
toại nguyện th́ con sẽ trở lại đạo
Công Giáo". Lần kia ông lên Đền
Lavang hành hương xin ơn. Khi trở về bà kể cho
ông nghe giấc mộng đẹp của bà: Một Bà-Đẹp
mặc đồ trắng toát, tay ôm những
bông Cúc Thọ kép. Bà xin một bông, Bà-Đẹp
cho ngay một bông. Bà xin một bông nữa,
Bà-Đẹp mỉm cười rồi biến đi.
Ông tin đó là điềm tốt,
Đức Mẹ đă nhân lời ông bà cầu xin. Và thực
thế, năm sau (
Ngày 25 tháng 5 năm 1932, có cha
Phượng và cha Mục sau khi cấm pḥng tại Ḍng
Phước Sơn về, hai cha đến Lavang kính viếng
Đức Mẹ. Cha Phượng leo lên tháp chuông coi, mới
lên được tầng dưới cao 5 thước, cha
bị xẩy chân té xuống nền Xi-măng, sọ bể
rạn từng miếng, một đầu gối bị dập,
ống chân bị bẻ quặt lại, máu chảy dầm
d́a lai láng. Cha bị ngất bất tỉnh
nhân sự. Người ta chạy đến nhà
thương Quảng Trị mời bác sĩ Phạm
văn Hy, nhưng rủi thay bác sĩ đi vắng. Đến
8 giờ tối bỗng nghe có tiếng xe
tiến tới trước cửa nhà xứ. Cha Morineau
Trung ngỡ là người đón bác sĩ trở về,
nhưng không, đó là xe của bác sĩ Hoslé, Quản Đốc
Bệnh Viện Huế đi săn bắn, t́nh cờ
đi ngang qua. Ông liền đưa nạn nhân lên xe chở về nhà thương, rồi
đánh điện mời bác sĩ Hy trở về. Hai bác
sĩ lo săn sóc cho nạn nhân nhưng cả hai đều
nói rằng: "Cha có qua khỏi là nhờ phép lạ Đức
Mẹ làm mà thôi". Quả thực phép lạ
đă xẩy ra trước sự ngạc nhiên của mọi
người. Chỉ sau 10 ngày cha Phượng đă khỏi
hết mọi vết thương từ đầu đến
tay chân. Bác sĩ tuyên bố: "Đó là
ơn thiêng từ trời ban cho cha. Một phép lạ Đức
Mẹ ban cho Cha, chứ không có tài nghệ nào chữa lành mau
như thế được". (Phép lạ
này đă được tường thuật trong Tạp
Chí Hội Truyền Giáo, xuất bản tại Balê tháng 4
năm 1932).
Ngồi liên tưởng đến
Thánh Lễ Đại Trào Khai mạc năm Toàn xá, kỷ niệm
200 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lavang và kỷ
niệm 10 năm Phong Thánh Tử Đạo Việt Nam. Tôi hồi tưởng về một khung trời ấu
thơ xa xưa với một biến cố trọng đại
đến với gia đ́nh tôi cách đây 40 năm về
trước, vào một ngày cũng mưa gió như hôm nay.
Năm 1958, ba tôi
làm việc tại Bệnh viện Trung Ương thành phố
Huế. Mỗi
tháng ông cùng các bác sĩ đi thanh tra các Bệnh viện nhỏ
trong vùng một lần. Hôm ấy ông sửa
soạn đi thăm bệnh viện Quảng Trị, cách
thành phố Huế khoảng 65 cây số về phía Tây Bắc.
Tôi c̣n nhớ rơ hôm
đó trời mưa lạnh, mưa rả rích suốt ngày. Ba tôi chuẩn bị lên
đường. Ba tôi mặc chiếc Jacket bằng da
và dặn ḍ mẹ tôi một vài điều ǵ đó rồi
vội vă ra xe.
Bước xuống
mấy bậc thềm, ông gặp ngay cha Cao văn Luận,
người cùng quê quán với cha tôi. Ngài rất thương yêu gia đ́nh
tôi và niềm mong mỏi của ngài là được thấy
gia đ́nh tôi theo Đạo. Điều mà đối với cha mẹ tôi là một
trở ngại rất lớn, không thể nào thực hiện
được. Họ hàng cả hai bên đều
không có ai theo Đạo Công Giáo, vả mẹ
tôi đă quy y, pháp danh là Nguyên Kha. Mẹ tôi
cũng đă xây chùa cho làng ngoại tôi ở Huế. Cả
một đời mẹ hy sinh cho hạnh phúc của chồng
con, nhưng trong vấn đề tín ngường bà rất
là cương quyết, v́ thế ba tôi cũng rất tôn trọng
mẹ tôi, mặc dù ông rất mến cha Luận.
Cha Luận gặp ba tôi, ngài
đưa cho ông một tấm ảnh và bảo: "Tôi mới
đi kiệu ngoài Lavang về. Đức Mẹ
đă làm nhiều phép lạ và rất linh thiêng, ông hăy giữ
lấy mà cầu nguyện". Ba tôi cười
cười, nói cám ơn cha, rồi thuận tay
ông nhét tấm ảnh vào túi trong của áo Jacket: "Con phải
đi ngay cha ạ, mọi người đang chờ con ở
ngoài kia". Vừa nói ông vừa chào từ giă rồi
đi ra xe.
Buổi chiều
trong khi người làm dọn cơm, chúng tôi ngồi nghe mẹ
kể chuyện. Mẹ
đang kể một đoạn trong câu chuyện "những
kẻ khốn cùng" của văn hào Victor Hugo, th́ chúng
tôi nhận được hung tin. Chiếc xe
chở ba tôi và bốn người nữa bị lật tại
cầu Giồng Quảng Trị ch́m xuống sông rồi. Tất cả đều tử nạn. Bệnh viện báo tin và yêu cầu gia đ́nh đến
ngay để nhận xác về mai táng.
Trước biến
cố bất ngờ, mẹ tôi như người bị
sét đánh, sững sờ ôm lấy chị em chúng tôi. Làm sao tôi có thể diễn tả hết
nỗi đau đớn trong ḷng mẹ tôi lúc này... Mẹ
tôi và chị em tôi theo xe bệnh viện
ra Quảng Trị lấy xác cha. Đến
nơi, tại trạm gác nhỏ nằm cuối chân cầu,
xác của ba ông bác sĩ và nhân viên bệnh viện đă
được vớt lên, c̣n thi hài ba tôi chưa t́m thấy.
Người ta chưa vớt được,
nhưng quả quyết rằng ông cũng cùng một số
phận với những tử thi đang nằm đó, v́
ông ở dưới nước quá lâu. Thân
nhân của các nạn nhân đă có mặt đông đủ,
họ kêu gào khóc lóc rất năo ḷng. Em tôi c̣n nhỏ
chưa hiểu lắm, nép trong ṿng tay mẹ ngơ ngác nh́n
quanh: "Ba đâu, ba đâu mẹ!".
Mẹ tôi chưa kíp dỗ dành th́ bỗng có tiếng người
la lớn: "Đây rồi, vớt được xác cuối
cùng rồi".
Là ba tôi đó. Mẹ tôi nhào tới.
Người ta khiêng xác ba tôi đặt lên chiếc băng
ca. Lại có tiếng la lên: "Trời ơi, ông ta h́nh
như chưa chết. C̣n thở, hơi thở
yếu lắm. Làm hô hấp cho ông ta ngay
đi".
Và ba tôi quả c̣n
sống thật. Mẹ tôi qùi xuống lạy trời lạy đất.
Cám ơn Trời-Phật đă cứu sống
ba tôi. Nước mắt mẹ tôi một
lần nữa tuôn trào, nhưng lần này là gịng nước
mặt hạnh phúc không ngờ. Chúng tôi quỳ xung
quang băng ca. Ba tôi tỉnh lại hẳn. Ông nói bằng một
giọng thật yếu ớt, câu nói đầu tiên tôi
không bao giờ quên được: "Hăy xin cha rửa tội,
rửa tội cho cả nhà. Đức Mẹ
Lavang đă chữa ba".
Nói xong, ông đưa tay vào túi áo
lục lọi kiếm t́m, ông rút ra một tấm ảnh
Đức Mẹ Lavang, tấm ảnh mà Cha Luận đă
cho ông trước chuyến đi định mệnh. Ba
tôi nói tiếp: "Đây chính Bà này đă cứu ba. Ba bị mắc kẹt trong gầm xa không sao ra
được. Bà đă đến lôi ba
ra. Ra khỏi cửa xe, Bà đẩy
ba nổi lên mặt nước và nói "Ta là Mẹ Lavang,
Ta đến cứu con".
Tôi chợt nghĩ lại: Nếu
ngày hôm ấy ba tôi không vội vàng ra đi và có thời giờ
tiếp chuyện cha Luận, th́ có lẽ bức ảnh
Đức Mẹ Lavang đă bị bỏ quên trong ngăn
kéo cùng với sự hững hờ của ba mẹ tôi rồi.
Sau biến cố đó, gia đ́nh tôi gồm
ba mẹ và 7 anh chị em được rửa tội
trong sự tự nguyện rất hoan hỷ của mẹ
tôi. Ba vị Linh mục thân thiết nhất của
gia đ́nh là cha Cao văn Luận, cha Ngô văn Trọng, cha
Vũ minh Nghiễm dạy giáo lư cho gia đ́nh, đă dâng
Thánh Lễ và ban phép Rửa Tội cho chúng tôi tại Thánh
Đường Đức Mẹ Lavang Quảng Trị. Mẹ
tôi vui mừng hân hoan và tin tưởng, bà lần chuôi Mân Côi
mỗi ngày. Cho đến ngày nhắm mắt, bà vẫn là một
tín đồ sốt sáng, sùng kính Đức Mẹ tuyệt
đối. Đây là h́nh ảnh cuối đời
của mẹ tôi.
Tôi c̣n nhớ, sau ngày gia đ́nh
chịu Phép Rửa Tội, mẹ tôi đă phải chịu
đựng biết bao lời ra tiếng vào của họ
hàng và những người quen biết.... Mỗi lần
than văn với Mẹ th́ mẹ tôi lại khuyên: "Ba là cột
trụ, là nguồn sống của gia đ́nh. Đức Mẹ đă cứu sống ba là cứu
sống cả gia đ́nh chúng ta. V́ thế dù cho phải
chịu bao nhiêu thử thách, khó khăn cũng phải chấp
nhận, để cảm tạ ân sủng
đó. T́nh yêu luôn luôn có cái giá phải trả, và cái giá đó
có nghĩa ǵ đâu với ân huệ mà
Đức Mẹ đă ban cho gia đ́nh chúng ta".
Mẹ tôi nói đúng, ơn lạ
mà Mẹ Lavang đă ban là một biến cố lớn trong
đời sống tâm linh của gia đ́nh, cùng là một
biến cố trong lịnh sử gia tộc. Ba
tôi năm nay đă gần 90 tuổi. Ông
vẫn c̣n giữ và kính tấm ảnh năm xưa đă cứu
mạng ông. Tấm ảnh ngày nay đă mờ nhạt
theo thời gian, nhưng mỗi ngày ông vẫn
ngồi bên Mẹ, đọc kinh, cầu nguyện, truyện
văn với Mẹ một cách thân t́nh.
Câu chuyện này vẫn thường
được tôi kể lại cho các cháu nghe như một
chuyện thần thoại nhưng có thực, chuyện xẩy
đến từ một phép lạ của Đức Mẹ
Lavang đối với gia đ́nh tôi nói riêng và nhiều gia
đ́nh khác nói chung.
Ngày đại lễ
khai mạc Năm Thánh hôm nay trời mưa nhiều. Tôi lái xe đi trong
cơn mưa như trút, nhưng ḷng tôi hạnh phúc vô cùng v́
tôi được có Chúa, có ánh sáng niềm tin của Ngài chiếu
rọi tâm hồn tôi. Tôi có t́nh yêu bao la rộng mở của
Đức Mẹ đă đến với gia đ́nh tôi từ
thuở tôi mới lên 10... Ngày nay tôi cũng vẫn cảm
thấy ḿnh may mắn, đă được hưởng một
ân huệ quá đặc biệt đến
từ t́nh yêu bao la không bờ bến của Đức Mẹ....
... Gia đ́nh hoàn
toàn ngoại giáo, lại nghèo nên bố tôi phải lên núi kiến
trầm về bán nuôi sống gia đ́nh. Nhưng chẳng
may bố tôi bị một nhánh cây khô nhọn đâm xuyên bàn
chân. Các bạn phải cơng bố tôi về.
Tới nhà th́ chân đă mưng mủ, nhức
nhối, suốt ngày chỉ ôm chân kêu đau rên rỉ.
Các cha, các Sơ đến thăm và chữa
trị nhiều lần nhưng cũng không bớt. Có người nói trong thịt xương bàn chân
c̣n nhiều miếng gỗ cứng sinh độc cần
phải mổ mới lành. Bố tôi
đi nhà thương soi điện nhưng chẳng thấy
ǵ, c̣n bác sỹ th́ nói phải cưa chân đi mới khỏi.
Mẹ tôi sợ bố què cụt không làm
được việc nên không cho. Bố tôi phần
th́ lo buồn v́ sợ chất độc chạy lên tim đe dọa mạng sống, phần th́
đau đớn không thể làm ǵ nuôi sống gia đ́nh.
Ở rú làng tôi có
ḥn đá trắng giống h́nh người nằm dưới
bụi ṿi voi xum xuê. Người ta đồn rằng "Ông
Đá" thiêng lắm, đêm khuya trời tối ông
thường ngồi dậy tṛ truyện với các hồn
ma trong nghĩa địa. V́ thế dân
làng ai đau yếu cũng nấu nước chè xanh mang
đến đây cầu khẩn rồi đem về uống.
Mẹ tôi c̣n hơn thế nữa, bà d́u bố tôi ra đây
khóc lóc cầu xin "Ông Đá" thương t́nh,
nhưng bố tôi chẳng thuyên giảm chút nào. T́nh thế gia đ́nh ngày càng nguy ngập.
Cuối hè năm ấy, nhân có
Đại Hội Thánh Mẫu Đức Mẹ Lavang,
Sơ Camille là cô giáo dạy tôi học, gợi ư đem bố
tôi đi Lavang nhờ Đức Mẹ cứu giúp. Sơ biết
gia đ́nh tôi ngoại giáo, lại túng thiếu, nên tŕnh cha xứ
cho nhập đoàn với giáo dân, đi chung
chuyến xe đ̣ và ăn ngủ với họ không phải
tốn tiền. Nghe chuyện ấy mẹ tôi mừng lắm
nên xin cùng đi theo. Ḷng bố
th́ nghi ngờ, nhưng v́ ngộ biến nên phải ṭng quyền.
(Gia đ́nh tôi ngoại đạo, nhưng tôi
học trường Công giáo, nên mọi kinh nguyện tôi xin
nhận đọc cả để bố tôi yên ḷng. Bố chỉ cần có ḷng thành tâm thôi). Bố
tôi hỏi:
- Thành tâm là thế nào?
- Là trong bụng bố đặt
hết tin tưởng vào Đức bà.
Mẹ tôi vui mừng
rưng rưng nước mặt bảo bố:
- Ông phải ăn
chay mấy ngày và hết ḷng cầu xin Bà Tiên giúp cho, không th́
nguy lắm.
Tôi nói:
- Đức Bà chỉ cần
ḷng thành thôi, bố không cần ăn
chay.
Gia đ́nh tôi gia nhập
đoàn hành hương trong bầu không khí đầy niềm
tin. Mỗi sáng mỗi
chiều, mẹ d́u bố đến trước tượng
Đức Mẹ bồng con đứng dưới tàng cây
đa cầu xin âm thầm, v́ điều ǵ có trong trí nghĩ
th́ Đức Mẹ cũng đă biết hết rồi.
Buổi chiều bế mạc,
mẹ tôi được Sơ dẫn
lên ngọn đồi phía sau để múc nước Thánh
và hái lá Vằng đem về. Sơ nói với
mẹ tôi:
- Thím về, cho chú uống
nước này, c̣n lá Vằng th́ giă nhỏ đắp lên vết
thương cho chú, cả nước và lá này đều
thiêng lắm. Không phải bây giờ Đức
Bà mới giúp người ốm đau ngặt nghèo vô
phương chạy chữa đâu, mà cả gần 200
năm nay rồi. Mẹ đă hiện xuống
giữa vùng núi non hẻo lánh này và nói với những
người bất hạnh như thế. Nhưng thím phải nói với chú cầu nguyện
và thật ḷng nương nhờ Đức Mẹ mới
được.
Đúng là phép lạ,
bố tôi dùng nước và lá ở đồi Lavang một
thời gian th́ trong người bố tôi khỏe khoắn,
tươi vui hẳn lên.
Chân của bố từ từ líp thịt,
đâm da non rồi lành hẳn. Bà con hàng xóm nghe tin ai
cũng đến mừng. Bố tôi nói:
- Nếu không có Bà Tiên ngoài xứ
Lavang, Quảng Trị th́ tôi cụt chân hay mất mạng rồi.
Sau đó bố tôi
đem nước và lá c̣n lại cho những người
đang đau ốm, lại nói tôi ở lại nhà đọc
kinh cho họ nữa.
Dĩ nhiên là ai cũng được Đức Mẹ cứu
chữa cả.... (Hồi kư :Vân Hà. Trích trong Báo Hiệp Nhất số 64 tháng 4, 1998).