68 phép lạ
được giáo hội chính thức thừa nhận
(1)
Bà Catherine Latapie, sinh năm 1820, sống ở Loubajac, gần
Lộ Đức. Được chữa lành vào ngày 1 tháng 3 năm
1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Laurence, Giám Mục
Tarbes.
(2)
Ông Louis Bouriette, sinh năm 1804, sống ở Lộ Đức.
Được chữa lành vào tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng
năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.
(3)
Bà Blaisette Cazenave (Soupene), sinh năm 1808, sống ở Lô Đức.
Được chữa lành vào tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng
năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.
(4)
Ông Henri Busquet, sinh năm 1842, sống ở Nay, Atlantic
Pyrenees. Được chữa lành vào cuối tháng 4 năm 1854.
Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.
(5)
Cậu bé Justin Bouhort, sinh tại Lộ Đức ngày 28 tháng 7
năm 1856, và sống ở Lộ Đức. Được chữa
lành vào đầu tháng 7 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm
1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi
Đức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.
(6)
Bà Madeleine Rizan, sinh năm 1800, sống ở Nay, Atlantic
Pyrenees. Được chữa lành ngày 17 tháng 10 năm 1858. Ngày
18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.
(7) Cô Marie Moreau, sinh năm 1841, sống
ở Tartas, Landes. Được chữa lành ngày 9 tháng 11
năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Laurence, Giám Mục
Tarbes.
(8) Ông Pierre de Rudder, sinh tại
Jabbeker, Bỉ. Được chữa lành ngày 7 tháng 4 năm
1875. Ngày 25 tháng 7 năm 1908 được chính thức công
bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Gustave Waffelaert, Giám Mục
Bruges.
(9) Cô Joachime Dehant, sinh tại Velaines,
Sambre, năm 1849, sống ở Gesves, Bỉ. Được chữa
lành ngày 13 tháng 9 năm 1878. Ngày 25 tháng 4 năm 1908 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Thomas
Louis Heylen, Giám Mục Namur.
(10) Cô Elisa Seisson, sinh năm 1855.
Được chữa lành ngày 29 tháng 8 năm 1882. Ngày 12 tháng 7
năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Francois Bonnefoy, Giám Mục Aix, Arles và Embrun.
(11) Nữ Tu Eugenia (Marie Mabille), sinh
năm 1855. Được chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1883.
Ngày 30 tháng 8 năm 1908 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Cha Philippe Meunier, Giám Mục
Evreux.
(12) Nữ Tu Julienne (Aline Bruyere), sinh
năm 1864, sống ở làng La Roque, gần Sarlat. Được
chữa lành ngày 1 tháng 9 năm 1889. Ngày 7 tháng 3 năm 1912
được chính thức công bố là Phép Lạ bởi
Đức Cha Albert Negre, Giám Mục Tulle.
(13) Nữ Tu Josephine Marie (Anne Jourdain),
sinh ngày 5 tháng 8 năm 1854 tại Le Havre. Được chữa
lành ngày 21 tháng 8 năm 1890. Ngày 10 tháng 10 năm 1908 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Marie
Jean Douais, Giám Mục Beauvais.
(14) Cô Amélie Chagnon, sinh ngày 17 tháng 9
năm 1874, sống ở Địa Phận Tournai, Bỉ.
Được chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1891. Ngày 8 tháng 9
năm 1910 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Charles G. Walravens, Giám Mục Tournai.
(15) Cô Clémentine Trouvé, sinh tại Azay le
Boulé, năm 1878. Được chữa lành ngày 21 tháng 8 năm
1891. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Cha Amette, Tổng Giám Mục
Paris.
(16 và 17) Cô Marie Lebranchu, sinh năm 1857,
và cô Marie Lemarchand, sinh năm 1874. Được chữa lành
ngày 20 và 21 tháng 8 năm 1892. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Amette,
Tổng Giám Mục Paris.
(18) Cô Elisa Lesage, sinh tại Bucquoy (Pas
de Calais), năm 1874. Được chữa lành ngày 21 tháng 8
năm 1892. Ngày 4 tháng 2 năm 1908 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Alfred Williez, Giám Mục
Arras.
(19) Nữ Tu Marie of the Presentation
(Sylvanie Delporte), sinh ngày 8 tháng 2 năm 1848. Được chữa
lành ngày 29 tháng 8 năm 1892. Ngày 15 tháng 8 năm 1908 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha
Francois Delamaire, Giám Mục phó Cambrai.
(20) Linh Mục Cirette, sinh tại Poses
(Eure), ngày 15 tháng 3 năm 1847. Được chữa lành ngày 31
tháng 8 năm 1893. Ngày11 tháng 2 năm 1907 được chính
thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Meunier, Giám
Mục Evreux.
(21) Cô Aurélie Huprelle, sinh năm 1869.
Được chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1895. Ngày 1 tháng 5
năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Jean Douais, Giám Mục Beauvais.
(22) Cô Esther Brachmann, sinh tại Paris,
năm 1881. Được chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1896.
Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Cha Léon Amette, Tổng Giám Mục
Paris.
(23) Cô Jeane Tulasne, sinh tại Indre et
Loire, ngày 8 tháng 9 năm 1877. Đựợc chữa lành ngày 8
tháng 9 năm 1907. Ngày 27 tháng 10 năm 1907 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Réné
Francois Renou, Tổng Giám Mục Tours.
(24) Cô Clémentine Malot, sinh tại
Granvilliers, ngày 22 tháng 11 năm 1872. Được chữa lành
ngày 21 tháng 8 năm 1898. Ngày 1 tháng 11 năm 1908 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Jean
Douais, Giám Mục Beauvais.
(25) Bà Rose Francois (Labreuvois), sinh năm
1863. Được chữa lành ngày 20 tháng 8 năm 1899. Ngày 6
tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là
Phép Lạ bởi Đức Cha Jean Amette, Tổng Giám Mục
Paris.
(26) Linh Mục Salvator Capuchin, sinh
năm 1862, sống ở Dinard. Được chữa lành ngày
25 tháng 6 năm 1900. Ngày 1 tháng 7 năm 1908 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha A.
Dubourg, Tổng Giám Mục Rennes.
(27) Nữ Tu Maximilien, sinh năm 1858,
sống ở Marseilles (Tu Viện Nữ Tu Hy Vọng).
Được chữa lành ngày 20 tháng 5 năm 1901. Ngày 5 tháng 2
năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Paulin Andrieu, Giám Mục Marseilles.
(28) Cô Marie Savoye, sinh năm 1877, sống
ở Cateau-Cambresis (Bắc). Được chữa lành ngày 20
tháng 9 năm 1901. Ngày 15 tháng 8 năm 1908 được chính
thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Francois
Delamaire, Giám Mục phó Cambrai.
(29) Bà Johanna Bezenac (Dubos), sinh năm
1876. Được chữa lành ngày 8 tháng 8 năm 1904. Ngày 2
tháng 7 năm 1908 được chính thức công bố là
Phép Lạ bởi Đức Cha Henri J. Bougoin, Giám Mục
Périgueux.
(30) Nữ Tu Saint Hilaire, sinh năm
1865, Bề Trên Tu Viện Peyreleau (Ḍng Thánh Giuse Clairvaux).
Được chữa lành ngày 20 tháng 8 năm 1904. Ngày 10 tháng 5
năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Charles de Ligonnes, Giám Mục Rodez.
(31) Nữ Tu Saint Béatrix (Rosalie Vildier),
sinh năm 1862, sống ở Evreux. Được chữa lành
ngày 31 tháng 8 năm 1904. Ngày 25 tháng 3 năm 1908 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha
Philippe Meunier, Giám Mục Evreux.
(32) Cô Marie Thérèse Noblet, sinh năm 1889,
sống ở Rheims. Được chữa lành ngày 31 tháng 8
năm 1905. Ngày 11 tháng 2 năm 1908 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Hồng Y Lucon, Tổng
Giám Mục Rheims.
(33) Cô Cécile Douville de Franssu, sinh tại
Tournai, Bỉ, ngày 26 tháng 12 năm 1885. Được chữa
lành ngày 21 tháng 9 năm 1905. Ngày 8 tháng 12 năm 1909 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Charles
Gibier, Giám Mục Versailles.
34) Cô Antoina Moulin, sinh tại Vinne
(Isere), ngày 13 tháng 4 năm 1877. Được chữa lành ngày 10
tháng 8 năm 1907. Ngày 6 tháng 11 năm 1911 được chính
thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Paul E.
henry, Giám Mục Grenoble.
(35) Cô Marie Borel, sinh tại Lozere, ngày
14 tháng 11 năm 1879. Được chữa lành ngày 21 và 22 tháng
8 năm 1907. Ngày 4 tháng 6 năm 1911 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Jacques Gely, Giám Mục
Mende.
(36) Cô Virginie Haudebourg, sinh tại Lons
le Saulnier, Pháp, năm 1886. Được chữa lành ngày 17 tháng
5 năm 1908. Ngày 25 tháng 11 năm 1912 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Francois A. Mallet, Giám
Mục Saint Claude.
(37) Bà Marie Biré (Lucas), sinh tại Vendée
(Pháp), ngày 8 tháng 10 năm 1866. Được chữa lành ngày 5
tháng 8 năm 1908. Ngày 30 tháng 7 năm 1910 được chính
thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Clovis Joseph
Catteau, Giám Mục Lucon.
(38) Cô Aimée, sinh năm 1872, sống ở
Vern, gần Angers. Được chữa lành ngày 28 tháng 5
năm 1810. Ngày 5 tháng 8 năm 1910 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Joseph Rumeau, Giám Mục
Angers.
(39) Cô Juliette Orion, sinh năm 1886, sống
ở St. Hilaire de Voust, Véndée. Được chữa lành ngày 22
tháng 7 năm 1910. Ngày 18 tháng 10 năm 1913 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Clovis
Joseph Catteau, Giám Mục Lucon.
(40) Bà Marie Fabre, sinh năm 1879. Được
chữa lành ngày 26 tháng 11 năm 1911. Ngày 8 tháng 9 năm 1912
được chính thức công bố là Phép Lạ bởi
Đức Cha Pierre Cezerac, Giám Mục Cahors.
(41) Cô Henriette Bressolles, sinh năm 1896.
Được chữa lành ngày 3 tháng 7 năm 1924. Ngày 4 tháng 6
năm 1957 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Paul Remond, Giám Mục Nice.
(42) Cô Lydia Brosse, sinh ngày 14 tháng 10
năm 1889. Được chữa lành ngày 11 tháng 10 năm 1930.
Ngày 5 tháng 8 năm 1958 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Cha Jean Guyot, Giám Mục Contances.
(43) Nữ Tu Marie Marguerite (Francois
Captitaine), sinh ngày 13 tháng 4 năm 1872, sống ở Đan Viện
Rennes từ năm 1896. Được chữa lành ngày 22 tháng
Giêng năm 1937. Ngày 20 tháng 5 năm 1946 được chính
thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Hồng Y
Clément Roques, Tổng Giám Mục Rennes.
(44) Cô Louise Jamain, sinh tại Paris, ngày
5 tháng 11 năm 1914. Được chữa lành ngày 1 tháng 4
năm 1937. Ngày 14 tháng 12 năm 1951 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Maurice Feltin, Tổng
Giám Mục Paris.
(45) Cậu bé Francis Pascal, sinh ngày 2
tháng 10 năm 1934, sống ở Beaucaire, Gard. Được chữa
lành ngày 31 tháng 8 năm 1938. Ngày 31 tháng 5 năm 1949 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Ch. de
Provenchères, Tổng Giám Mục Aix en Provence.
(46) Cô Gabrielle Clauzel, sinh ngày 15 tháng 8
năm 1894, sống ở Oran. Được chữa lành ngày 15
tháng 8 năm 1943. Ngày 18 tháng 3 năm 1948 được chính
thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Bertrand
Lacaste, Giám Mục Oran.
(47) Cô Yvonne Fournier, sinh tháng Giêng
năm 1923. Được chữa lành ngày 19 tháng 8 năm 1945.
Ngày 14 tháng 11 năm 1959 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Hồng Y Maurice Feltin, Tổng
Giám Mục Paris.
(48)
Bà Rose Martin (Pérona), sinh ngày 28 tháng 3 năm 1901. Được chữa
lành ngày 3 tháng 7 năm 1947. Ngày 5 tháng 5 năm 1949 được
chính thức công bố là Phép Lạ, và ngày 17 tháng 3 năm
1958 được tái xác nhận là Phép Lạ bởi Đức
Cha Rémond, Giám Mục Nice.
(49)
Bà Jeanne Gestas, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1897, sống ở Bègles,
(50)
Cô Marie Therese Canin, sinh năm 1910. Được chữa lành
ngày 9 tháng 10 năm 1947. Ngày 6 tháng 6 năm 1952 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Jean
Delay, Giám Mục Marseilles.
(51)
Cô Mađalena Carini, sinh tại
(52)
Cô Jeanne Frétel, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1914. Được chữa
lành ngày 8 tháng 10 năm 1948. Ngày 20 tháng 10 năm 1950 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Hồng
Y Clément Roques, Tổng Giám Mục Rennes.
(53)
Nữ Tu Marie Mercédès (Théa Angele), sinh tại Đức, ngày 24
tháng 9 năm 1921. Được chữa lành ngày 20 tháng 5 năm
1950. Ngày 28 tháng 6 năm 1961 được chính thức công
bố là Phép Lạ bởi Đức Cha P.M. Théas, Giám Mục
Tarbes và Lô Đức.
(54)
Ông Evasio Ganora, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1913, sống ở Casale
Monferrato. Được chữa lành ngày 2 tháng 6 năm 1955. Ngày
31 tháng 5 năm 1955 được chính thức công bố là
Phép Lạ bởi Đức Cha G. Angrisani, Giám Mục Casale
Monferrato.
(55)
Cô Edeltraud Fulda, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1916. Được chữa
lành ngày 12 tháng 8 năm 1950. Ngày 18 tháng 5 năm 1955 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Hồng
Y Théodor Innitzer, Tổng Giám Mục Vienna.
(56)
Ông Paul Pellegrin, sinh ngày 12 tháng 4 năm 1898. Được chữa
lành ngày 3 tháng 10 năm 1950. Ngày 8 tháng 12 năm 1953 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Auguste
Gaudel, Giám Mục Fréjus.
(57)
Tu Sĩ Léo Schwager, sinh tại Thụy Sĩ, ngày 30 tháng 4
năm 1924. Được chữa lành ngày 30 tháng 4 năm 1952.
Ngày 8 tháng 12 năm 1960 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Cha Francois Charriere, Giám Mục
Lausanne, Geneva và Fribourg.
(58)
Bà Alice Couteault Gourdon), sinh ngày 1 tháng 12 năm 1917, sống ở
Bouillé Loretz, Deux Sevres. Được chữa lành ngày 15 tháng 5
năm 1952. Ngày 16 tháng 7 năm 1956 được chính thức
công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Henri Vion, Giám Mục
phó Poitiers.
(59)
Cô Marie Bigot, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1922. Được chữa
lành ngày 8 tháng 10 năm 1953 và ngày 8-10 tháng 10 năm 1954. Ngày 15
tháng 8 năm 1956 được chính thức công bố là
Phép Lạ bởi Đức Hồng Y Clément Roques, Tổng Giám
Mục Rennes.
(60)
Bà Ginette Nouvel (Fabre), sinh ngày 18 tháng 1 năm 1928, sống ở
Carmaux, Tarn. Được chữa lành ngày 21 tháng 9 năm 1954.
Ngày 31 tháng 5 năm 1963 được chính thức công bố
là Phép Lạ bởi Đức Cha Claude Dupuy, Tổng Giám Mục
Albi.
(61)
Cô Elisa Aloi, sinh tại Patti, Sicily, ngày 26 tháng 11 năm 1931.
Được chữa lành ngày 5 tháng 6 năm 1958. Ngày 26 tháng 5
năm 1965 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Francesco Fasola, Tổng Giám Mục Messine.
(62)
Cô Juliette Tamburini, sinh tại
(63)
Anh Vittorio Micheli, sinh tại tỉnh
(64)
Ông Serge Perrin, sinh ngày 13 tháng 2 năm 1929. Được chữa
lành ngày 1 tháng 5 năm 1970. Ngày 17 tháng 6 năm 1978 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Jean
Orchampt, Giám Mục Angers.
(65)
Cô Delizia Cirolli, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1964. Được chữa
lành vào dịp gần Lễ Giáng Sinh năm 1976. Ngày 28 tháng 6
năm 1989 được chính thức công bố là Phép Lạ
bởi Đức Cha Luigi Bonmarito, Tổng Giám Mục Catania.
(66)
Ông Jean Pierre Bély, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1936. Được chữa
lành ngày 9 tháng 10 năm 1987. Ngày 9 tháng 2 năm 1999 được
chính thức công bố là Phép Lạ bởi Đức Cha Claude
Dagens, Giám Mục Angoulême.
(67)
Bà Anna Santaniello, sinh năm 1912, bị chứng bệnh tim
khó thở từ nhỏ, đă được chữa lành
bệnh trong một chuyến hành hương cầu nguyện
ở Lộ Đức vào ngày 19 tháng 8 năm 1952. Đức Tổng
Giám Mục Salerno Gerardo Pierro đă công bố phán quyết của
Giáo Hội về việc chính thức thừa nhận phép
lạ này trước sự hiện diện của bà
Santaniello trong thánh lễ Chúa Nhật ngày
(68) Ông Jacquew Salaun, sinh năm 1935, sống
ở La Loupe, Chartres, Pháp. Được chữa lành ngày 1 tháng
9 năm 1993. Sự kiện được chữa lành này
đang chờ sự phán quyết tối hậu của
Giáo Hội.