Sự
khả tín của Sứ Điệp Fatima
Lm Nguyễn
Hữu Thy
Với
biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima,
người ta có thể nói được một cách chắc
chắn rằng kỷ nguyên của Mẹ Maria đă đạt
tới điểm cao tột đỉnh. Và tất nhiên,
cũng không một ai có thể cho rằng đó là một việc
t́nh cờ hay một sự ngẫu
nhiên được, khi những biến cố siêu nhiên lạ
lùng xảy ra từ ngày 13 tháng 5 cho tới ngày 13.10.1917 tại
Fatima, lại xảy ra hoàn toàn trùng hợp cùng một thời
điểm với cuộc cách mạng Bôn-xờ-vít, cuộc
bùng nổ của phong trào cộng sản vào tháng 10 năm
1917 tại Mạc-tư-khoa, khởi đầu cho kỷ
nguyên cộng sản quốc tế vô thần, chủ
trương duy vật biện chứng và hoàn toàn phủ nhận
sự hiện hữu của Thiên Chúa cũng như toàn bộ
công tŕnh sáng tạo vũ trụ của Người. Từ
đây hai kỷ nguyên mới đại diện cho hai thế
lực hoàn toàn đối lập nhau đă bắt đầu.
Như
thế người ta thấy rằng trong suốt hơn
2000 năm lịch sử của Giáo Hội, chưa bao giờ
thị kiến mang tính cách tiên tri của tác giả Sách Khải
Huyền về cuộc chiến giữa Người Nữ
«khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng và
đầu đội mười hai ngôi sao» và con «rồng
đỏ khổng lồ» lại trở nên hiện thực
một cách rơ rệt như thế (x. Kh 13,1tt).
Ở
Mạc-tư-khoa, thủ đô Nga Sô, bộ Chính trị
Trung ương Bôn-xờ-vít đă nhất trí dùng bạo lực
phát động một cuộc nổi dậy vào ngày
10.10.1917. Chương tŕnh của cuộc nổi dậy:
«Vào đêm 25 rạng ngày 26.10 sẽ đột chiếm dinh
Mùa Đông, bản doanh của chính phủ lâm thời Nga
Hoàng đang do Alexander Kerenskij lănh đạo và sẽ bắt
giam tất cả mọi thành viên của chính phủ này. Bắt
buộc Hạ viện Quốc hội Sô-viết thực thi
khẩu hiệu của Bôn-xờ-vít ‘Tất cả mọi
quyền lực là của người Sô-viết’ và
đồng thời thành lập một chính phủ cách mạng
do Lê-nin lănh đạo»(1).
Mục đích của cuộc cách mạng Tháng Mười
Bôn-xờ-vít là lật đổ chế độ Nga Hoàng
và thành lập một chế độ cộng sản vô thần,
hoàn toàn phủ nhận sự hiện hữu của Thiên
Chúa, và t́m cách loại bỏ tôn giáo bằng mọi giá. Nhưng
dĩ nhiên Mạc-tư-khoa chỉ là bước khởi
đầu, hay nói đúng hơn là bàn đạp cho những
phong trào cộng sản sử dụng để nhuộm
đỏ phần thế giới c̣n lại bằng chủ
thuyết vô thần và duy vật của họ.
Nhưng
10 ngày trước đó, ngày 13.10.1917, hàng trăm ngàn người
đă chứng kiến tận mắt một phép lạ
vĩ đại chưa từng xảy ra trong lịch sử
nhân loại, mà Thiên Chúa đă thực hiện tại Fatima
do sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, phép
lạ mặt trời quay cuồng bay lộn một cách vừa
ngoạn mục vừa khủng khiếp. Qua đó, Thiên
Chúa muốn minh chứng một cách hùng hồn cho toàn thể
nhân loại về sự hiện hữu cũng như về
quyền năng tối thượng bất khả phủ
nhận của Người, đồng thời đó
cũng là một câu trả lời rơ ràng và trực tiếp
cho phong trào cộng sản vô thần và duy vật chất
do Lê-nin lănh đạo đă bùng nổ ở Nga Sô và đang
trở thành một mối đe dọa nguy hiểm cho cả
thế giới nói chung và cho Kitô
giáo nói riêng.
Tuy
nhiên, không chỉ sự thành công của cuộc cách mạng
Tháng Mười của Bôn-xờ-vít vô thần, nhưng cả
những sự sửa soạn của họ trước
đó, cũng đă không xảy ra ngoài con mắt của «Vị
Nữ Tướng bách chiến bách thắng của Thiên
Chúa!» (Đức Piô XII).
Thật
vậy, vào tháng tư trước đó, với sự dàn xếp
và giúp đỡ của các sĩ quan quân đội Đức,
Lê-nin đă rời bỏ Thụy Sĩ, nơi ông đang
lánh nạn, và trở lại Nga sô. Ông bắt đầu
công bố các tư tưởng cách mạng và phương
thức hành động của ông - mà người ta thường
gọi là các «Luận Đề Tháng Tư» - để
giải thích cho các thuộc hạ hiểu rơ mục đích
cuộc cách mạng và vạch ra cho họ con đường
rơ ràng để dẫn cuộc cách mạng đến chỗ
thành công(2). Trong những
tuần lễ đó, chính phủ lâm thời do Kerenskij lănh
đạo luôn luôn phải đối mặt với nhiều
khó khăn to lớn, trong khi đó ảnh hưởng của
Lê-nin mỗi ngày mỗi bành trướng mạnh mẽ
trong dân chúng. V́ thế, mặc dù nhờ vào sự hỗ trợ
của các đoàn quân từ mặt trận kéo về, quân
đội của chính phủ Kerenskij lại một lần
nữa đă dẹp tan được cuộc nổi dậy
Tháng Bảy(3), nhưng Lê-nin luôn luôn xác tín rằng
cuộc cách mạng cộng sản do ông ta lănh đạo
chỉ tạm thời bị thất bại, v́ đă khởi
động quá sớm mà thôi, chứ sự thất bại
đó sẽ không c̣n có thể ngăn cản được
sự thành công một ngày gần đây.
V́
thế, ông đă không nản ḷng, trái lại c̣n kêu gọi
thuộc hạ cần phải tăng cường mọi
nỗ lực và phải hy sinh vất vả hơn nữa.
Từ Phần Lan, ông ta đă soạn thảo các văn bản
và những lời hiệu triệu soạn sửa hành
động để trong ṿng ba tháng nữa sẽ cướp
chính quyền.
Vào
đúng thời điểm đó – ngày 13.5.1917 - tại
Fatima thuộc nước Bồ Đào Nha, Đức Nữ
Vương Rất Thánh Mân Côi đă hiện ra lần thứ
nhất với ba trẻ chăn chiên và công bố những
luận đề riêng của Mẹ để chỉ dạy
cho con cái loài người nhận ra được mục
đích và chiều hướng của cuộc cách mạng
chân chính duy nhất mà Phúc Âm Đức Kitô đă đề
xướng, đó là: Con người phải từ bỏ
tội lỗi, canh tân nội tâm, sửa đổi cuộc
sống và quay trở về cùng Thiên Chúa. Và vào ngày 13 tháng 7,
ngay trước khi tại thành phố Peterburg ở Nga Sô những
ḍng máu đầu tiên của hàng ngàn dân chúng vô tội đổ
ra do các bộ hạ Lê-nin gây ra, th́ tại Fatima Đức
Maria đă công bố Sứ Điệp của Mẹ gồm
ba mệnh lệnh đơn sơ và
ngắn gọn, để cho nhân loại thực thi, hầu
nhờ thế bước tiến hung hăng, đầy
tham vọng và vô cùng nguy hiểm của đoàn quân Lê-nin sẽ
bị ngăn chận kịp thời; đó là:
1.
Ăn năn sám hối,
hoàn lương và cải thiện cuộc sống.
2.
Tôn kính Mẫu Tâm Vô
Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
3.
Sốt sắng lần
hạt Mân Côi mỗi ngày.
Và
chính Đức Mẹ cũng đă quả quyết rằng:
«Nếu nhân loại biết nghe theo lời yêu cầu của
Mẹ, nước Nga sẽ ăn năn trở lại và
sẽ có ḥa b́nh.»
Như
vậy, năm 1917 quả thực là một «năm định
mệnh»(4)
cho cả nhân loại. Nhưng đối với toàn thể
thế giới Kitô giáo, năm 1917 c̣n là một năm đă
nêu rơ trách nhiệm to lớn của họ đối với
lục địa Âu Châu và đối với toàn thế giới
qua những biến cố đă xảy ra ở Đông
cũng Tây phương.
Một
sự thể không thể chối căi được là chủ
thuyết cộng sản vô thần được bắt
đầu năm 1917 tại Ngay Sô và đang trên đường
bành trướng đến một số quốc gia trên thế
giới, nhất là ở những nơi mà Sứ Điệp
Fatima không được quan tâm thực thi. Cách riêng là do lục
địa Kitô giáo Âu Châu đă phản bội Đức
Kitô, v́ đă:
· tạo điều kiện cho kỷ
nguyên của chủ thuyết cộng sản vô thần khởi
động;
· thiếu ḷng sùng kính đối với
Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa;
· làm lu mờ vẻ huy hoàng sự chiến
thắng vinh quang của kỷ nguyên Mẹ Maria bằng sự
chạy theo vật chất xác thịt và bằng các tội
ác khác của ḿnh.
Những
ai thành tâm t́m hiểu và suy niệm Sứ Điệp Fatima sẽ
khám phá ra được rằng, không chỉ động lực
thiêng liêng mạnh mẽ được chứa đựng
trong đó, nhưng c̣n nhận rơ được cả tầm
quan trọng mang tính cách lịch sử liên hệ nữa. Đức
Giám Mục Fulton J. Sheen viết: «Sự mặc
khải Fatima là cả một nhắn nhủ hết sức
nghiêm trọng được gửi đến tất cả
mọi Kitô hữu, đó là:
· Vấn đề vốn được
xem là của nước Nga, lại chính là vấn đề
của các Kitô hữu.
· Người ta cần phải chinh phục
nước Nga và giúp họ quay trở lại với xă hội
tự do dân chủ của các dân tộc bằng lời cầu
nguyện, bằng sự hăm ḿnh và ăn chay đền tội,
chứ không phải bằng thái độ khiêu khích nhục
mạ, bằng gây hấn và chiến tranh.»(5)
Nhưng v́ nhân loại
chúng ta vẫn không thực thi Sứ Điệp và «những
lời nhắn nhủ hết sức nghiêm trọng» của
Mẹ Thiên Chúa, vẫn không thay đổi thái độ sống
lệch lạc của ḿnh, nên chúng ta khó có thể bào chữa
cho ḿnh được trước ṭa án lịch sử, v́:
·
chúng
ta đă không ngăn cản được cuộc thế
chiến II tàn khốc khỏi xảy ra;
·
hàng
triệu sinh mạng người vô tội đă phải hy
sinh một cách vô ích;
·
và
hơn một phần ba thế giới đă bị rơi
vào gông cùm của Liềm- Búa.
Ngày nay, sau hơn 70
năm hoành hành tại nước Nga, tại Liên Bang Sô Viết,
tại các nước Đông Âu, tại Trung Hoa và một số
các nước khác trên thế giới, chế độ cộng
sản vô thần đă chính thức tự giải thể
và cáo chung tại các phần đất này, nhưng các ảnh
hưởng tai hại khủng khiếp của nó để
lại cho các dân tộc liên hệ trong mọi lănh vực thật
khôn lường:
·
Về kinh tế: đất nước rơi vào t́nh trạng
tụt hậu, kém mở mang, nghèo đói và lạc hậu;
·
Về văn hóa: đại đa số dân chúng ngu dốt,
thiếu sáng kiến cá nhân, kiến thức hẹp ḥi, xa lạ
với nền văn minh tiến bộ của nhân loại,
v́ chỉ sống trong bầu không khí tuyên truyền một
chiều;
·
Về xă hội: rời ră, thiếu tổ chức, thiếu
kỷ luật luân lư, thiếu năng động, kém mở
mang, đồng dạng, một chiều, thiếu óc phê
b́nh;
·
Về tôn giáo: trên 80% dân chúng tại Liên Sô cũ và các
nước Đông Âu vô tôn giáo, tâm hồn hoàn toàn trống rỗng,
lạc lơng, vô định hướng, thiếu hẳn sự
an ủi và cậy dựa về mặt tinh thần. Do
đó, đă đưa tới hậu quả, là:
·
Về luân lư đạo đức: vật chất,
tầm thường, thiển cận, ích kỷ, hưởng
thụ, vô trách nhiệm.
V́ thế, người
ta phải tự hỏi: Phải chăng nhân loại đă
có thể tránh được tất cả những hậu
quả đau thương như thế, nếu họ
đă biết lắng nghe những lời nhắn nhủ
và yêu cầu của Mẹ Thiên Chúa ở Fatima? Vâng, lời
cảnh giác của Đức Mẹ đă quá rơ ràng: «Nếu
nhân loại không muốn đáp lại lời yêu cầu của
Mẹ, nước Nga sẽ gieo rắc các lạc thuyết
ra khắp nơi, sẽ gây ra chiến tranh và các cuộc
đàn áp Giáo Hội. Các người lành sẽ bị tàn
sát, Đức Thánh Cha sẽ phải chịu nhiều
đau khổ. Nhiều dân tộc sẽ bị tiêu diệt».(6)
Thật là một
điều vô cùng đáng sợ khi chỉ nghĩ tới
hành động của bao nhiêu người đă và đang
khinh thường Sứ Điệp Fatima của Mẹ
Thiên Chúa, nếu không muốn nói là họ c̣n t́m cách chống
đối và kết án, và không chỉ những kẻ thù của
Giáo Hội hành động như thế, nhưng c̣n có cả
một số không nhỏ con cái Giáo Hội nữa. V́ thế,
ở đây chúng ta cần nhắc lại lời tuyên bố
của ông Hamisch Fraser - một cựu đảng viên cộng
sản đă ăn năn trở lại - trước
đại hội Đạo Binh Xanh Đức Mẹ tại
Paris
vào ngày 8.12.1952 như sau: «Chúng ta hoàn toàn được
tự do phủ nhận Đức Mẹ Fatima. Nhưng nếu
chúng ta làm điều đó, và rồi mọi hậu quả
khủng khiếp xảy ra, th́ bấy giờ chúng ta đừng
nói rằng ḿnh đă không được nhắc bảo
trước. Chớ ǵ Thiên Chúa rộng ḷng tha thứ cho
chúng ta, nếu chúng ta phủ nhận Sứ Điệp Mẹ
Fatima.»
Dĩ nhiên, ở
đây chúng ta cũng cần phải xác định rằng
Sứ Điệp Fatima là một sự mặc khải
tư riêng, chứ không phải là một chân lư mặc khải
đă được Giáo Hội công khai tuyên xưng như
một tín điều. Nói cách khác, Sứ Điệp Fatima
không được Giáo Hội công bố – với uy quyền
của Thiên Chúa và với ơn vô ngộ đă được
Người ban cho - như những chân lư đ̣i buộc phải
tin, và v́ thế, các tín hữu cũng không nhất thiết
bó buộc phải tin theo. Nhưng tất nhiên, điều
đó không có nghĩa là: nếu các tín hữu luôn trung thành và
sốt sắng liên kết gắn bó với Giáo Hội lại
được phép coi Sứ Điệp Fatima như bất
cứ sự mặc khải tư riêng nào khác và v́ thế
được phép dễ dàng coi thường hay phủ nhận.
Một điều khác
cũng quá hiển nhiên và không thể phủ nhận
được, đó là các mặc khải tư riêng đă
có những ảnh hưởng rất sâu rộng trên sự
sống và chương tŕnh Phụng Vụ của Giáo Hội
từ hàng bao thế kỷ nay. Ở đây, chúng ta thử
đan cử một vài ví dụ cụ thể, như: phong trào sùng kính Thánh Tâm
Chúa Giêsu, và từ đó đă dẫn tới việc thiết
lập Lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu; hay như việc thiết
lập Lễ Ḿnh và Máu Thánh Chúa, v.v… Tất cả đều
đă được bắt nguồn từ các mặc khải
tư(7). Chính Đức Giáo Hoàng Piô XII đă tuyên bố
trước Hồng Y Đoàn vào ngày 1.6.1946 những lời
như sau: «Chúng tôi cảm thấy bó buộc lại phải
lên tiếng kêu gọi mọi con cái của Giáo Hội cần
ghi nhớ sự cảnh giác, mà Chúa Cứu Thế trong suốt
hàng bao thế kỷ đă luôn luôn tiếp tục nhắc bảo
qua những mặc khải của Người cho các tâm hồn
đặc biệt mà Người đă ưu tuyển: Hăy
giảm nhẹ án phạt công minh của Thiên Chúa bằng việc
phát động một chương tŕnh ăn năn đền
tội trên khắp thế giới»(8).
Qua những tŕnh bày trên
đây, chúng ta thấy rằng trong các Vị Giáo Hoàng hiện
đại, th́ Đức Piô XII và Đức Gioan Phaolô II
đă có một mối tương quan rất mật thiết
với Fatima. Đức Piô XII suốt trong thời gian trên
ngôi Giáo Hoàng đă viết vô số Tông Thư, Sắc Lệnh
và các bài diễn thuyết đề cập đến
Fatima. C̣n Đức Gioan Phaolô II - tuy viết rất ít các
văn thư về Fatima - nhưng chính ngài đă ba lần
liên tiếp đích thân đi hành hương Fatima. Nhất
là sau vụ ngài bị Ali Agca, một tên khủng bố Hồi
Giáo, ám sát và làm trọng thương trên chính quảng
trường Thánh Phêrô ở Roma vào ngày 13.5.1981, Đức
Gioan Phaolô II đă hoàn toàn xác tín rằng chính Đức Mẹ
Fatima đă cứu sống ngài; chính Sơ Lucia cũng công nhận
như thế. Bởi vậy, sau đó ngài đă đi hành
hương Fatima để tạ ơn Đức Mẹ.
Trong cuộc hành hương này Đức Gioan Phaolô II
cũng đă mang theo một trong 4 viên đạn mà tên khủng
bố đă bắn vào ngài và cho gắn vào mũ triều
thiên trên đầu Đức Mẹ. Và một sự lạ
lùng làm mọi người kinh ngạc là trên mũ triều
thiên Đức Mẹ đă có một cái lỗ hoàn toàn vừa
vặn với viên đạn đó, như thể đă dự
trù và làm sẵn cho viên đạn đó từ trước
rồi.
Ngày 13.5.1955, Đức
Hồng Y Angelo G. Roncalli, Thượng Phụ thành Venise
- mà ba năm sau đó đă được bầu làm Giáo
Hoàng Gioan XXIII – khi đến kính viếng trung tâm hành
hương quốc tế Fatima, đă có được một
ấn tượng sâu xa trước bầu không khí đạo
đức tại ngọn đồi Cova Da Iria và Sứ
Điệp siêu nhiên phát xuất từ đó. Trong bài giảng
trước biển người hành hương vào khoảng
700.000 người, ngài đă nói: «Cho tới nay, tôi chỉ
biết được rằng Bồ Đào Nha là một
quốc gia có đội thuyền hàng hải nổi danh, có
nhiều thuộc địa, có các nhà truyền giáo và là
đất nước của vô số thánh nhân. Nhưng bây
giờ tôi đă khám phá ra được rằng Bồ
Đào Nha c̣n là một đất nước đầy huyền
nhiệm, một đất nước đă phát động
một phong trào tông đồ mới, nhắc lại lời
mời gọi thực thi những chân lư vĩnh cửu của
Phúc Âm – từng được loan báo cho toàn thế giới
qua lời nói và mẫu mực của Đức Kitô –
nhưng nay lại đă được tín thác cho những
trẻ thơ, đơn sơ và nghèo hèn. Đó là điều
gây nơi tôi một ấn tượng sâu xa.» Và cuối bài
giảng của ngài, Đức Thượng Phụ đă
cầu nguyện: «Lạy Mẹ Fatima, một lần nữa,
con xin cảm tạ Mẹ đă thương mời con
đến tham dự vào bữa tiệc của ḷng
thương xót và của t́nh yêu trọng đại này.
Chính nơi đây, làn gió nhẹ buổi trưa xưa kia
đă từng loan báo các lần Mẹ hiện đến
trên cây sồi, và nay chính nơi Mẹ từng nhắn
nhủ, từng ban cho con cái loài người mọi ơn
lành đó, Mẹ đă cho con cảm nghiệm được
sự ngọt ngào của những lời chúc phúc của Mẹ.»(9)
Phải chăng những
sự kiện đó đă không muốn chứng minh rằng
Sứ Điệp Fatima thật là một điều hoàn
toàn khả tín?
Đàng khác, chúng ta
đừng quên rằng biến cố Đức Mẹ hiện
ra ở Fatima là một sự kiện lịch sử hiển
nhiên. Thật vậy, người ta đă có thể chứng
minh được những lần hiện ra của Đức
Mẹ một cách rơ ràng hơn bao biến cố lịch sử
khác, khiến cả những người vốn hoài nghi một
cách cố chấp cũng phải chấp nhận. Trong ṿng
8 năm trời, hiện tượng Đức Mẹ hiện
ra ở Fatima đă được một Ủy Ban - do
chính Đức Giám Mục giáo phận Leiria-Fatima đứng
đầu – điều tra một cách hết sức thận
trọng, nghiêm chỉnh và khách quan. C̣n ba trẻ đă
được thị kiến Đức Mẹ - những
đứa trẻ nông thôn đơn sơ, tâm sinh lư hoàn toàn
lành mạnh và không hề có chút mảy may bị ảo
tưởng – th́ từng em một đă phải trải
qua những cuộc hỏi cung hết sức nghiêm ngặt,
tinh vi và phức tạp bởi chính quyền có khuynh hướng
thù nghịch Giáo Hội lúc bấy giờ, cũng như bởi
những nhà chuyên môn, nhưng các câu trả lời của ba
em khi được hỏi cung riêng rẽ như thế,
đều hoàn toàn trùng hợp với nhau, chứ không hề
có chút khác biệt hay mâu thuẫn nhau, hoặc có bất cứ
dấu hiệu gian trá nào. Ngay khi ba em phải đối mặt
trực tiếp với cái chết đang sẵn chờ
trước mắt, cả ba trẻ đều giữ vững
sự xác tín của ḿnh. Vâng, các em sẵn sàng thà chịu ném
vào một chảo dầu sôi để chết, chứ dứt
khoát không chịu thổ lộ bí mật mà «Bà Đẹp»
đă tin tưởng giao phó cho các em.
Nhưng nhất là phép
lạ mặt trời quay vào ngày 13.10.1917 trước sự
chứng kiện tận mắt của gần 70.000 người
có mặt hôm đó tại hiện trường và chưa kể
hàng ngàn người khác trong khắp các vùng kế cận.
Đặc biệt nhất là phép lạ mặt trời quay
xảy ra hôm đó đă được chính các phóng viên của
rất nhiều tờ báo lớn thù nghịch với Giáo Hội
ở Bồ Đào Nha chứng kiến, những phóng viên vốn
t́m đến Cova Da Iria hôm đó chỉ với mục
đích là t́m cách chấm dứt lần cuối cùng cái «tṛ
hề mê tín» từng xảy ra mấy tháng nay bằng những
bài báo đầy giọng châm biếm và chế giễu. Nhưng
rồi chính mắt họ đă chứng kiến tại hiện
trường một sự lạ lùng xảy ra giữa
thanh thiên bạch nhật, ngoài sức tưởng tượng
và dự đoán của họ, nhất là đă làm đảo
lộn hoàn toàn mọi tư duy và quan điểm của họ,
khiến họ đă làm ngược lại với dự
định ban đầu của ḿnh khi mới tới Cova
Da Iria, tức thay v́ viết những bài báo chế giễu
và phỉ báng, th́ họ đă cho đăng tải ở
trang nhất những bài báo đầy vẻ kính cẩn
và hết lời ca ngợi.
Ở đây, người
ta cũng không thể bỏ qua một chi tiết quan trọng
đă góp phần làm cho biến cố Fatima thêm tính cách khả
tín mà chúng tôi vừa nhắc qua ở trên, đó là thái độ
chống đối khe khắt và quá khích của chính quyền
địa phương quận Ourem lúc bấy giờ. Thật
vậy, chính quyền quận Ourem vào lúc xảy ra biến cố
Fatima, hoàn toàn nằm trong tay những kẻ thuộc bè Tam
Điểm, vô thần và công khai chống đối Giáo Hội.
V́ thế, họ đă không một chút nương tay
trước những sự kiện mang tính cách tôn giáo
như biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Cova
Da Iria. Họ đă t́m đủ mọi biện pháp – kể
cả bắt bớ, giam cầm, ngăm đe dọa nạt,
khủng bố tinh thần ba trẻ - hầu để
ngăn chận và dập tắt sự cố, chứ không
thể để xảy ra, kẻo quan điểm vô thần
và thái độ thù nghịch Giáo Hội của họ khỏi
bị đe dọa và khỏi bị thiệt hại.
Nhưng chính cách thức và thái độ hành xử cực
kỳ khe khắt đến bất công của họ đối
với ba trẻ thơ ngây vô tội Fatima lại là một
đóng góp tích cực cho tính cách khả tín của biến cố
Fatima. Như thế, họ đă vô t́nh đi ngược lại
mục đích của ḿnh, và thay v́ dập tắt được
biến cố như họ mong muốn, họ lại làm
cho biến cố thêm khả tín hơn và v́ thế càng bành
trướng, càng lan rộng một
cách nhanh chóng hơn.
Cuối cùng, đúng 13
năm sau đó, tức vào ngày 13.10.1930, với sự nhất
trí và đồng thuận của Hội Đồng Giám Mục
Bồ Đào Nha, Đức Cha Don José Correira da Silva, Giám Mục
Giáo phận Leiria-Fatima đă công khai và chính thức nh́n nhận
biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Cova Da Iria
là sự thật và hoàn toàn khả tín.
C̣n Toà Thánh Vatican,
dưới triều đại các Đức Giáo Hoàng Piô XI
và Bênêđíctô XV, luôn có thái độ ủng hộ biến
cố Fatima.(10) Nhưng
đặc biệt nhất là dưới triều đại
Đức Giáo Hoàng Piô XII, biến cố Đức Mẹ
hiện ra ở Fatima đă chính thức được Giáo
Hội công nhận là sự thật. Trong cuộc gặp gỡ
các phái đoàn hành hương từ khắp thế giới
kéo về giáo đô Roma vào tháng 6.1951, khi được phái
đoàn đông đảo đến từ Bồ Đào
Nha lớn tiếng tung hô: «Vạn tuế vị Giáo Hoàng
của Fatima!», th́ Đức Piô XII đă mỉm cười
trả lời: «Vị Giáo Hoàng Fatima đó chính là Cha
đây!» Ngày 13.5.1942, Đức Hồng Y Cerejeira, Thượng
Phụ thủ đô Lissabon, đă quả quyết rằng
Fatima đối với mỗi tín hữu Bồ Đào Nha
hiển nhiên là một biến cố vĩ đại nhất
trong lịch sử của cả đất nước. Và
vào năm 1947, chính Đức Hồng Y lại bổ túc
thêm bằng những lời tuyên bố như sau: «Fatima
không chỉ thuộc về một ḿnh nước Bồ
Đào Nha, nhưng thuộc cả thế giới. Fatima
đă trở thành Trung tâm của đức tin, của ḷng
ăn năn thống hối và của niềm hy vọng
cho toàn thể nhân loại. Fatima, bàn thờ của thế
giới, đứng trực diện đương đầu
với Mạc-tư-khoa, sào huyệt của những kẻ
thù vô thần và nguy hiểm của Kitô giáo. Fatima đă cảnh
cáo cho nhân loại biết rằng những nguy hiểm của
chiến tranh, của ách nô lệ và của sự tiêu diệt
chết chóc, đang đe dọa họ, nếu họ xa
ĺa Thiên Chúa. Nhân loại sẽ được hưởng
hạnh phúc, sự tự do và nền ḥa b́nh, nếu họ
biết hối cải quay trở về cùng Đức
Kitô. Một điều đă xảy ra trong cùng một
năm là trong khi màu cờ đỏ của cuộc cách mạng
vô thần tung bay ngập trời với những hứa hẹn
cho một cuộc giải phóng thế giới không cần
tới Đức Kitô, th́ Fatima lại mang trên ḿnh ấn tín
sự can thiệp cụ thể và rơ ràng của Thiên Chúa.
Vâng, người ta rất khó có thể t́m thấy trong lịch
sử Giáo Hội lại có được một biến
cố có thể so sánh được với biến cố
xảy ra ở Fatima. Người ta có thể nói mà không sợ
quá lời rằng, ở Fatima nhân loại đă nh́n thấy
được sự bảo đảm cho sự cứu rỗi
của ḿnh!»(11).
______________
1.
Hermann
Weber, trong: «Von Lenin zu Chrustschow» dịp kỷ niệm Cách mạng
Tháng Mười lần thứ 40, được ấn
hành trong „Aus Politik und Zeitgeschichte“, phần bổ túc của
Tuần Báo „Das Parlament“.
2.
Eugen Lemberg:
„Ost-Europa und die Sowjet-Union“, in lần thứ 2 tại nhà xuất
bản Otto Müller, Salzburg, 1956, trang 156.
3.
Josef
Schweigl: „Fatima und die Bekehrung Russlands“, nhà xuất bản
Johannes, Leutesdorf, 1956, trang 22.
4.
xem
Rudolf Graber: „1917 – Das Entscheidungsjahr in der 1.Hälfte des 20.
Jahrhunderts“, trong „Der Bote von Fatima“, số 173, trang 1104.
5.
Fulton
J. Sheen: „Der Kommunismus und das Gewissen der westlichen Welt“, nhà xuất
bản Morus, Berlin, 1950, trang 209.
6.
Lần
hiện ra thứ 3, ngày 13.7.1917
7.
J.
Erbes: „Strahlende Hände über Paris“, nhà xuất bản Credo, Wiesbaden
8.
The
Register, Denver, Colo. USA, lần phát hành vào ngày 27.2.1955.
9.
MK V
22-21. XI.1958.
10.
John
Haffer: „Russia will be converted“, AMI, International Press, Washington, 1950.
11.
Seelsorgehilfe,
Köln, 15.9.1953, trang 258.