Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô,Trong Giáo Hội
Felipe Gómez Ngô Minh, SJ
Trong lịch sử Giáo Hội cũng như trong các nhà thờ công giáo, địa vị của Đức Maria hiển hiện nổi bật hẳn. Đối với người không công giáo, xem
ra người kitô chúng ta dành
cho Đức Mẹ một uy thế ngang hàng với
Thiên Chúa, và dĩ nhiên là hữu h́nh hơn. Những học thuyết hoặc những phong trào lạc
giáo (lạc giáo cũng có nhiều điều đúng lắm
chứ!), nhất
là Tin lành, đă nhiều lần lớn tiếng chỉ trích các khuynh hướng quá đáng ấy.
Trong những thập kỷ gần đây, có thể
nhận ra hai hiện tượng đối nghịch: một là bỏ rơi những tập quán sùng mộ
đạo đức đối với Đức Mẹ và bớt giảm sự quan tâm học hỏi về Người trên phương diện tri thức, hai là thái độ mê mải với các vụ hiện ra và các sứ
điệp của Người; cả hai khuynh hướng không quân b́nh này đều gây hại cho đời sống Giáo hội.
Nguy hiểm mà những khuynh hướng nói trên đưa tới, là thả mồi bắt bóng rồi cuối cùng đi đến chỗ chỉ c̣n coi tôn giáo như là một điều ǵ quá ư trừu tượng hoặc quá lạt lẽo. Mạc khải tỏ rơ cho thấy Đức Maria đóng giữ một địa vị quan trọng trong mối liên hệ mà Thiên Chúa
có đối
với loài người. Vai tṛ ấy, công đồng Vaticanô II đă tóm tắt nói lên khi nhận
định là: Đức Maria đă lănh nhận một nhiệm vụ và vinh dự cao cả là được làm mẹ Con Thiên Chúa, và do
đó, làm ái nữ của Thiên Chúa Cha, cùng làm cung thánh của Chúa Thánh
Thần.
Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội" số 53.
Vậy, thử xem đức tin và thần học hiện tại nghĩ ǵ về Đức Mẹ Chúa Trời. Sau đây là một số tác phẩm căn bản về Maria học, như: tác phẩm tập thể Kexaritomene, Mélanges René Laurentin,Paris,
Desclée 1990; Mater Dei et Fidelium,
Collect Essays to honor ,Théodore Koehler, University of Dayton, Ohio 1991.
"Marie, Étoile de l'Évangélisation, Les XIe Congrès Mariologique et le
XVIIIe Marial Internationaux (Huelva, 18-27 Sept. 1992); K. Rahner, Mary,
Mother of the Lord, 1958; E.Schillebeeckx, Mary, Mother of the Redemption,
1964; M. Thurian, Mary, Mother of All Christians, N.Y. Herder & Herder
1964; R. Laurentin, Court traité sur la Vierge Marie, Paris, Lethielleux 1967;
Idem, Marie, Mère du Seigneur. Les beaux textes de deux millénaires, Paris,
Desclée 1984; X. Pikaza, La madre de Jesús. Introducción a la Mariología,
Salamanca 1989; G. Gharib et alii, Testi mariani del primo millenio, I,II,III,
Roma, Città Nuova Ed. 1990; F.-X., Durrwell, Marie: Méditation devant l'Icône, Paris,
Médiaspaul 1990.
Những Vấn Nạn
Suốt nhiều thế kỷ, giáo lư về Đức Maria đă tiệm tiến triển phát song song với cách thức sống đạo và lề lối cử hành phụng vụ, mà không gặp phải một vấn đề đáng kể nào. Tuy nhiên, gần đây Maria học đă phải trải qua một cơn khủng hoảng khá nặng nề, v́ một số lư do như sau: trước hết, thần học về Đức Maria đă tập trung hết cả chú tâm vào nơi
các đặc ân của Người, làm như tách Người ra khỏi Đức Kitô và Giáo hội, biến Maria học trở thành một giáo tŕnh thần
học đơn
lập; thêm vào đó lại có ảnh hưởng của phong trào đại kết: nhạy cảm trước các lời phê b́nh của các anh chị em Tin lành, và muốn phản ứng một cách gọi là tích cực, nhiều người công giáo (nhất là các học giả Kinh Thánh) cố
nín lặng, tránh nêu ra các giả thuyết hoặc các tập tục cho là nặc mùi công giáo; và cuối cùng là sự việc giới chú giải đă bị chi phối quá nhiều bởi phương pháp phê b́nh lịch sử khi bàn về Đức Maria.
Đành rằng mục đích của
loài người là sống cho và trong Thiên Chúa. Tuy nhiên, để hiện thực tiêu đích ấy,
chính Thiên Chúa đă muốn gặp gỡ với chúng ta qua Đức
Maria: Người là cửa Thiên Chúa đi qua để đến với loài người và ngược lại. Theo Thánh Kinh,
Thiên Chúa hằng ở gần chúng ta; thế mà thần học lại lấy các phạm trù siêu h́nh học để suy diễn về một h́nh ảnh Thiên Chúa rất là xa vời: về một Đấng hoàn toàn bất
biến, bất khả tri luận, toàn năng toàn tri, vô cảm vô tư, v.v., tắt một lời, về một Đấng khác hẳn và ngược hẳn với tất cả những ǵ thuộc về thế giới loài người, không thể nào đạt tới được.
May mắn thay, đă có Đức Kitô làm trung gian. Nhưng, một lần nữa, con người cũng vẫn c̣n hiểu lầm về Đấng Trung gian: Đức
Giêsu không phải là một vị môi giới giữa Thiên Chúa ấy và loài người; Ngài là trung gian,
v́ nơi Ngài chính Thiên Chúa của Thánh Kinh. Khi nói về Thiên Chúa của Thánh Kinh, là người ta muốn ám chỉ tới h́nh ảnh của Thiên Chúa tỏ hiện trong sách Thánh; nghĩa là của một Thiên Chúa gần
gũi với dân Ngài, của một Thiên Chúa biết phản ứng trước cảnh khổ đau và bất công của dân Ngài, của một Thiên Chúa hằng đối thoại, hằng kết giao với loài người, hằng biết yêu thương và cảm thông sầu khổ..., tức là về một Thiên Chúa muốn gặp gỡ với chúng ta và con người chúng ta đă trở thành một; bản thân Ngài là chính Thiên-Chúa-ở-với-chúng-ta mỗi ngày cho đến
tận thế (Mt 28,20). Nhưng Đức Kitô là Đấng quá cao cả, với lại Ngài c̣n là Đấng Thẩm Phán cánh chung, thế nên, con người vốn thấp hèn và tội lỗi vẫn cảm thấy e dè, không dám mạnh dạn đến với Ngài...
Thêm một lần nữa may mắn là đă sẵn
có Đức Maria: là người nữ tượng trưng cho ḷng dịu hiền nhân ái, khoan dung
và dễ mến; là Mẹ hằng sẵn ḷng cầu cho ... những kẻ có tội. Kết quả là các tín hữu
tấp nập tuôn đến với Đức Mẹ, v́ họ quan niệm cho Người là nhân từ hơn Chúa Kitô; họ đặt thêm nhiều danh hiệu cho Người, như Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp,Đ. Mẹ Mân Côi, Đ. Mẹ Lộ Đức, Đ. Mẹ Fatima, Đ. Mẹ Lavang,v.v..., đến nỗi một đàng trong các nhà thờ và tại các nhà riêng, có nhiều tượng ảnh khác nhau của
Đức Maria hơn
là của Chúa Giêsu, và đàng khác, người ta có cảm tưởng là Giáo hội công giáo tin vào rất nhiều Đức Mẹ rất khác nhau. Thánh Bênađô lại nói rằng: de Maria numquam
satis, nói về Đức Maria th́ không bao giờ cho đủ, thế nên, người ta có khuynh hướng cứ nâng Người lên cao hơn măi, cứ tăng số những đặc huệ đặc quyền của Người thêm nhiều hơn; tựu trung, khuynh hướng ấy cũng lại làm cho Đức Mẹ trở thành quá thánh thiện, quá siêu việt,
quá cao cả xa vời...: một Nữ Vương Thiên Đàng xa xăm; rốt cuộc, con người lại đành phải
đi t́m những vị trung gian thấp
hơn, gần gũi hơn nữa: đó là các Thánh!
Là những con người thuần túy, đă sống cảnh tội lệ như bất cứ ai khác, nên các Thánh có thể thông cảm hơn với những nhu cầu hằng ngày của con người yếu đuối... C̣n có cả
những vị Thánh chuyên môn lo
điều này cái nọ nữa cơ!, như ông thánh Antôn, ông
thánh Máctinô, hay bà thánh Têrêxa,
v.v... Người ta tưởng tượng ra một thiên triều giống như triều đ́nh trần thế, hoặc như các cơ chế của một chánh phủ. Nhưng thật ra, các Thánh không gần chúng ta hơn Thiên Chúa đâu;
trái lại, chính v́ Thiên Chúa
gần chúng ta, nên trong Người và trong Chúa Kitô, các Thánh mới có thể gần gũi với chúng ta được. Nếu Đức Mẹ nhân từ, th́ chính là v́ Thiên Chúa, Đấng đă dựng nên Đức Mẹ, là Đấng nhân từ vô cùng.
Giáo hội luôn luôn cầu nguyện nhờ Chúa Giêsu Kitô. Nếu chúng ta được phép cầu nguyện nhờ Đức Maria, nhờ các Thánh, th́ chính
là v́ tất cả chi thể của Đức Kitô đều liên đới
với nhau, như
tín điều các tháánh thông
công. Khi chúng ta nói là các Thánh thông công,
th́ điều đó muốn nói là các Thánh
nhân, tức là các chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô, đều liên đới
với nhau, và các điều thánh, tức là các bí tích, công
đức, v.v..., đều được thông chuyển, chia sẻ với nhau và cho nhau. Cầu xin một điều ǵ nhờ Đức Maria hoặc nhờ các Thánh bầu cử, ấy là lấy công đức
của các ngài cũng như là của ta, hiệp với công nghiệp của Đức Kitô, mà xin Thiên
Chúa ban ơn xuống cho. Đức Maria không có thể ban ơn; chỉ một ḿnh Thiên Chúa mới có quyền ban ơn. Đức Maria là một tạo vật như chúng ta: Người chỉ có thể đón nhận ơn và cầu thay nguyện giúp xin Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta. hằng dạy cho chúng ta biết.
Nhiều nhà thần
học đă tranh căi về thành ngữ Đức Maria Trung Gian; và dù công đồng Vaticanô II có gọi Mẹ là Đấng Trung Gian (LG 62), th́ cũng vẫn không quên lưu ư cho thấy ngay rằng đó chỉ
là một vai tṛ trung gian phụ thuộc đối với Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Kitô (1Tm 2,5).
Gần đây Giáo hội đă minh định hai tín điều về Đức Maria: tín điều vô nhiễm nguyên tội (năm 1854) và tín điều mông triệu thăng thiên (1950); sự việc đó đă có thể thúc đẩy quá trớn ḷng sùng đạo của một số người ưa nhấn mạnh đến các đặc quyền đặc huệ của Đức Maria, đến
độ có người công giáo đă coi Mẹ như một vị thần linh độc
lập, như một vị phó Thiên Chúa... Dĩ nhiên là thần học không bao giờ
quên rằng Đức Mẹ thuộc về Con của Người, các đặc ân đặc quyền ấy là ơn của chính Con ban cho Mẹ, v.v...; nhưng trong cách sống đạo hằng ngày, người ta thường có thói quen trực tiếp cầu xin với Đức Maria mà quên hàm chỉ đến Con của Người; trong cách biểu đạt nghệ thuật qua hội họa hay điêu khắc, lại thấy có nhiều ảnh tượng tŕnh xuất một ḿnh Đức Maria, không c̣n bế Con như thường thấy trong truyền thống nghệ thuật thời xưa. Đó là một số chi tiết làm cho thần học băn khoăn và cảm thấy có bổn phận cần phải tŕnh bày lại
giáo lư cho đúng đắn hơn về địa vị và vai tṛ của Đức Maria trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. V́ thế, cũng cần nhớ lại lời sau đây của công đồng
chung Vaticanô II: Được cứu chuộc cách kỳ diệu hơn nhờ công nghiệp Con của Người và hiệp nhất mật thiết cùng bền chặt với Con ḿnh, Đức Maria đă lănh nhận nhiệm vụ và vinh dự cao cả là làm Mẹ Con Thiên Chúa, và do
đó, được làm ái nữ của Thiên Chúa Cha, cùng
làm cung thánh của Chúa Thánh Thần(LG 53).
Thánh Kinh Dạy Ǵ về Đức Maria
Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, và Thánh Truyền đáng kính, đều tŕnh bày ngày một sáng tỏ về vai tṛ của Mẹ Đấng Cứu Thế trong nhiệm cuộc cứu rỗi, và nêu rơ vai tṛ ấy ra cho chúng ta chiêm ngưỡng (LG 55). Về
Đức Maria trong Thánh Kinh, xin xem A. Serra, E c'era la Madre di Gesù... Saggi
diesegesi biblico-mariana (1978-1988), Milano-Roma 1989. Toàn bộ Kinh Thánh là Lời của Thiên Chúa, nhưng luôn luôn được nói qua lời của con người. Tác giả chính là Chúa Thánh Thần, Đấng linh hứng cho các
ngôn sứ,
các thi sĩ, các sử gia, các nhà xuất
bản sách thánh và cho chính văn bản chúng ta đang
đọc bây giờ; v́ thế, Kinh Thánh hàm xúc những ư nghĩa khá phức tạp: ư của thi sĩ soạn ra Diễm Ca, ư của nhà xuất bản sách ấy như là một phần của bộ chính lục, và ư của một Giáo Phụ kitô chú giải về văn bản ấy chưa chắc đă đồng nhất với nhau; nhưng Thánh Thần giúp cho dân Chúa trong mỗi thời đại thụ hưởng được chân lư dẫn đưa đến cùng đích cứu rỗi cuối cùng. Khi Tân Ước đọc Cựu Ước, th́ vinh quang Phục Sinh soi
chiếu
cho bản văn bằng một ánh sáng mới, và khi Giáo hội đọc cả hai, th́ kinh nghiệm ngày nay làm cho việc nhận thức đạt được đến nhiều ư nghĩa sâu rộng khác, mà những
độc giả thời trước đă không bao giờ ngờ. Khi nghiên cứu về Đức Maria trong Kinh Thánh, th́ cũng phải nhớ đến các điểm đáng lưu
ư ấy.
A. Maria học thường đọc Cựu Ước theo kiểu tượng trưng.
Trong thánh sử có những biến cố (như biến cố xuất hành Ai cập), những thực tại (như thành thánh
Giêrusalem, như ḥm bia, chẳng hạn), những h́nh bóng (như Người Tôi Tớ Giavê, người Thiếu Nữ Sion), có thể
được hiểu nhiều cách khác nhau và áp
dụng vào nhiều
trường hợp cũng khác nhau. Trong
kinh cầu Lôrêtô, Giáo hội xướng danh Đức Maria bằng nhiều tước hiệu khác nhau đă được rút ra từ Cựu Ước; chẳng hạn như ờTháp Đavítở (Dc 4,4), Tháp ngà (Dc 7,4), Cửa Trời (Tv 78,23), Sao mai
(Hc 50,6), Ḥm Bia Giao Ước (Đnl 10,8. 25.25,
v.v.); điều đó giúp chúng ta
hiểu phần nào về mầu nhiệm của Mẹ Thiên Chúa. Trong tông thư Marialis cultus (2-2-1974), Đức Paolô VI đă nhắc nhở đến sự việc nhiều Giáo Phụ đă gọi Đức Maria bằng những danh tước khác nhau, như Nơi cư trú của Ngôi Lời, Đền hoặc Nhà Tạm của Chúa,Ḥm Bia Giao Ước hoặc Ḥm thánh thiện, v.v... (MC, II,1).
Tước hiệu Ḥm Bia, chẳng
hạn, th́ đi đôi với ư niệm về giao ước. Sau khi Giavê kết giao với
dân Ítraen qua khế ước trên Núi Sinai, Người đă ra lệnh
xây một nơi thánh để cư ngụ ở giữa họ (Xh 25,8). Lúc đầu là Nhà lều, sau là Đền thờ, nhưng cả hai phải che giữ Ḥm Bia có khắc Mười Lời (10 giới răn); như vậy, Ḥm Bia trở
thành dấu hiệu của Giavê hiện diện ở giữa dân Người: Ta sẽ đặt Nhà Tạm của Ta giữa các ngươi, và sẽ không chán ghét các ngươi. Ta sẽ đi đi lại lại giữa các ngươi; Ta sẽ là Thiên Chúa của
các ngươi, c̣n các ngươi sẽ là dân của Ta (Lv 26,11-12). Để tỏ rơ một sự hiện diện đặc biệt trong những cuộc thần hiển, th́ đă có
đám mây che phủ Núi Sinai (Xh 24,16)
hoặc Lều Hội ngộ (Xh 40,34-35), hay Đền thánh Giêrusalem (1V 8,10-12).
Căn cứ theo Phúc Âm thánh Luca, Xin xem A. Feuillet,
Le Sauveur messianique et sa Mère dans
les récits de l'enfance de saint Matthieu et de saint Luc, Città del Vaticano
1990, chẳng
hạn. truyền
thống công giáo đă áp dụng cho Đức Maria biểu tượng Ḥm Bia. Thánh
Ambrô-siô viết rằng: Ḥm Bia là ǵ, nếu không phải là Đức Trinh nữ Maria? Sermo 42.6, PL 17.689.; và trong văn kiện được gọi là Trọng sắc vàng Gloriosae Dominae (27-9-1748) chẳng hạn, Đức Bênêđitô XIV đă viết là: [Giáo hội]
gọi Người là Ḥm Bia Giao Ước bí nhiệm, nơi đó Thiên Chúa đă thực hiện những mầu nhiệm hoà giải chúng ta; nh́n đến Người, là Thiên Chúa liền nhớ lại Giao Ước và không thể quên đi được ḷng thương xót của ḿnh.
Như đám mây che phủ đậu trên (epeskíazen) Nhà
Lều và như
vinh quang Đức Chúa xuống đầy Nhà Tạm (Xh 40,35), sứ
thần Gabriel cũng hứa với Đức Maria rằng: Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền
năng Đấng Tối Cao sẽ bao trùm che chở bà (episkiásei soi) (Lc 1,35); kết quả là ḷng dạ bà sẽ tràn đầy với sự hiện diện của Đấng thần thiêng, tương tự như Nhà Lều và Ḥm Bia khi có
đám mây che phủ đậu trên. Sau đó, thánh Luca tŕnh thuật về việc Đức Maria đi viếng người chị họ của ḿnh, là bà Êlidabét; đoạn tŕnh thuật này song song với chương sáu của sách Samuen cuốn
thứ hai, là chương thuật lại việc Đavít chở Ḥm Bia từ Baalah đến Giêrusalem: cả
hai sự việc tŕnh thuật đều xẩy ra tại Giuđêa; và cả hai đều kể lại niềm hân hoan nhảy
mừng sung sướng (2Sm 6,5-Lc 1,41); Ḥm Bia trong nhà Obêd-Eđôm và Đức Maria trong nhà Êlidabét đều đă mang lại
lời chúc lành (2Sm 6,12-Lc 1,41); Đavít
đă kêu lên: Làm sao Ḥm Bia Giavê đến
trong nhà tôi được? (6,9); c̣n Êlidabét
th́ bỡ ngỡ thốt ra rằng: Bởi đâu tôi được hân hạnh Thân Mẫu Chúa tôi đến
viếng thăm? (1,43). Rơ là Thân Mẫu Chúa bây giờ
giữ vai Ḥm Bia Giavê, v́ vậy Êlidabét kính phục Đức Maria như xưa kia Đavít đă tỏ ḷng kính trọng
đối với Ḥm Bia. Cuối
cùng, Ḥm Bia đă lưu lại tại nhà Obed-Eđôm ba
tháng (2Sm 6,11), hệt như Maria cũng đă ở lại với Êlidabét độ
ba tháng (Lc 1,56). Tắt một lời, khi Đức Maria thưa lên lời Xin vâng, là Người chấp nhận ư định của Thiên Chúa đề ra để sáng lập giao ước, và Thiên-Chúa-ở-với-chúng-ta đă thực sự hiện diện ở trong Người; và v́ đă tin,
nên Người đă trở thành tín hữu số một; rồi chính v́ thế
mà Người đă khánh thành
cuộc khai mở
giao ước mới. Gioan Phaolô II, Redemptoris Mater, số 17.
Cuộc thăm viếng này tỏ cho thấy một cảnh tượng đầy hạnh phúc, hạnh phúc thiên sai.
Maria đầy ơn phúc vội vă lên đường (Lc 1,39), ḷng ngập tràn niềm vui, để như thánh Ambrôsiô nhận định chia sẻ ơn viên măn ấy với người chị họ. Thoạt nghe tiếng chào của Maria, bà Êlidabét đă kêu lớn tiếng (anephônesen: là từ chỉ được Tân Ước dùng đến có một lần duy nhất, tức là trong đoạn tŕnh thuật này), hệt như xưa kia dân Ítraen đă kêu lên trước Ḥm Bia (Cựu Ước bằng tiếng Hy lạp cũng dùng động từ anaphônein: 1Sb 15,28; 16,4.5.42; 2Sb 5,13). Toàn bộ văn đoạn này nêu lên cho thấy rằng Đức Maria chính là Mẹ Chúa tôi và thật
diễm phúc v́ đă tin (Lc 1,43-45). Chúa
đây chính là Đấng Thiên sai tất nhiên là với bản tính siêu việt
và các từ đă tin th́ ám chỉ đến cộng đồng các kitô hữu, nghĩa là Đức Maria tượng trưng cho Hội Thánh các tín hữu: Đức Maria là tín hữu đầu tiên của Giáo Hội. C̣n niềm hạnh phúc ngập tràn tâm ḷng Đức
Maria th́ lại tung nnổ vang lên trong bài ca Magnificat (Linh hồn tôi tung hô chúa) để khen ngợi Thiên Chúa v́ đă
làm những điều to lớn ở nơi một kẻ bé mọn.
B. Giêrusalem là trung tâm của đời sống Ítraen:
Đối với người Do thái, Giêrusalem tượng trưng cho Thiên Chúa hiện diện và quan pḥng, cho lời hứa và cho niềm hy vọng. Thành thánh được nhân hóa và được gọi là Thiếu nữ
(Con Gái) Sion. Theo kiểu nói Hy bá, để nhân hóa, th́ một nước hoặc một thành phố thường được gọi là thiếu nữ, như: thiếu nữ Babylon (Tv 137,8), thiếu nữ Ai cập (Gr 46,11), thiếu
nữ Êđôm (Ac 4,21). Núi Sion là đỉnh cao nhất của Giêrusalem, nơi
Salomon đă xây cất Đền Thờ, tức là chỗ Ḥm Bia lưu ngụ (1V 8,1-8). Bởi đó, Sion có nghĩa là núi thánh (Is 18,7), hoặc là thành Giêrusalem
(Is 37,32), và có khi cũng c̣n có nghĩa là cả toàn bộ Ítraen nữa (Is 46,13); theo cách
nói ấy, Thiếu
nữ Sion là chính Giêrusalem (Gr 6,2t) và đôi khi là cả toàn bộ dân nước Ítraen (Xp 3,14).
Đức Maria được công đồng
Vaticanô II gọi là Thiếu nữ Sion cao sang (LG 55),
Xem E.G. Mori, Figlia di Sion e Serva di Jahwé nella Bibbia e nel Vaticano II,
Ed. Dehoniane, Bologna 1970. và trong thông
điệp
Redemptoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Chuộc), khi bàn về
hai lời chào của sứ thần Gabriel và bà Êlidabét, Đức Gioan Phaolô II viết rằng: Trong tâm hồn của người `Thiếu Nữ Sion' này, một
cách nào đó, đă hiện lên tất cả `vinh quang của ân sủng' mà Thiên Chúa Cha quyết định rộng ban cho chúng ta nơi Con yêu dấu (RM,8). Nên chú ư là
trong các văn kiện này, từ ngữ Thiếu nữ Sion mang một ư nghĩa khác với ư nghĩa trong Kinh Thánh; ở đây Thiếu nữ Sion không c̣n chỉ về Giêrusalem hoặc Ítraen nữa, nhưng là chỉ về một thiếu nữ Do thái giữa các thiếu nữ Do thái khác. Ư nghĩa này c̣n tỏ hiện rơ hơn nữa ở trong tông thư Mulieris Dignitatem (15-8-1988), số
3: Thiếu nữ Sion là một trong các con cái của con dân Ítraen, Maria chính là người thiếu nữ ấy của dân được chọn này...
Trong Cựu Ước, có ba sấm ngôn của các tiên tri Giô-en (2,21-27), Xô-phô-nia
(3,14-17) và Da-ca-ria (2,14-15; 9,9-10) kêu mời
thiếu nữ Sion hăy vui mừng lên v́ Thiên Chúa cư ngụ ở giữa họ; Mt 21,5 và Ga 12,15 áp dụng lời của Dacaria cho cuộc
Đức Giêsu khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem.
Nhiều nhà chú giải nhắc nhở lại rằng trong văn bản của Luca, Đức Maria cũng được giục giă để vui lên: Hăy vui lên, hỡi ai đầy ân sủng! (khairê, kêkharitômênê!); cách tế nhị, thánh Luca đă soạn ra một thứ miđrash (dụ
ngôn giải thích) để áp dụng các sấm ngôn ấy cho bản thân Đức Maria. Như vậy, thánh Luca đồng nhất hóa Trinh nữ Nadarét với Thiếu nữ Sion, là Giêrusalem mới, tượng trưng cho toàn thể Ítraen; nói cách khác,
Người là phần kiên trung c̣n lại của Ítraen, Trong Cựu Ước, ư niệm phần c̣n lại(reste, remnant) biểu trưng cho ḷng trung thành
của Giavê. Dù Thiên Chúa có phạt dân bất trung; nhưng vẫn c̣n có một nhóm kiên trung giữ Luật, và nhờ họ, mà Thiên Chúa xót thương tất cả: xem Ds 14; Is 1,9; 4,3; 6,13; 7,3; Gr 24; Ed 48; Dcr 8,11t; Mk 5,6. hiện thân của phần dân hèn mọn, khiêm hạ, chỉ biết cậy trông vào ḷng xót thương hải hà của Thiên Chúa mà thôi (xem Xp 3,12-13): Đức Maria là hiện
thân cho niềm hy vọng ấy của dân Chúa.
Giêrusalem cũng được gọi là Mẹ của muôn dân. V́ bất trung với Giao Ước, dân Ítraen bị
phát tán (xem Đnl 4,25-27; 28,62-66) và trở thành con cái tản mác của Thiên Chúa. Khi thời lưu đày kết thúc, Thiên Chúa đoàn tụ họ lại, và hứa sẽ tuôn đổ Thần Khí của Ngài trên họ, làm cho họ nhận biết Ngài là Thiên Chúa của họ (Ed 39,26-29); hơn nữa, Giavê cho dân ngoại gia nhập cộng đồng Ítraen và được thờ phượng Ngài (Is 14,1: 60,3t): Ngày ấy, đông đảo các quốc gia sẽ quyến luyến Giavê, và họ
sẽ là dân của
Ta, và Ta sẽ lưu ngụ ở giữa ngươi (Dcr 2,15). Như
vậy, thành Giêrusalem được coi như là ḷng dạ người mẹ với Đền Thờ làm nguồn sống cho vô số con cái đến
phụng tự Thiên Chúa duy nhất (xem Is. 60,1-9; Tv 87; Tb 13,11-13).
Những h́nh bóng ấy được áp dụng cho Đức Kitô và Mẹ của Ngài. Theo Gioan, Đức Giêsu chết là để thâu họp các con cái tản mác của Thiên Chúa, cả Do thái lẫn dân ngoại (Ga 11,51-52), v́ những ai đón nhận
Ngài, th́ được quyền làm con Thiên Chúa (1,12); họ tập hợp trong thành Giêrusalem mới, mà thánh Phaolô gọi là Giêrusalem trên cao, mẹ chúng ta (Gl 4,26). Trong Giêrusalem này, Đền thờ là chính Chúa Kitô
(xem Ga 2,19-22; Kh 21,22). Con cái của Giêrusalem mới là các môn đồ của Đức Giêsu. Và như
tiên tri đă từng nói với Giêrusalem cũ
là: Hăy nh́n các con cái ngươi được thu họp từ nơi mặt trời lặn cho tới nơi mặt trời mọc (Br 5,5; x.4,37; Is
60,4), th́ Đức Kitô cũng nói với Mẹ ḿnh là: Hỡi bà, này là con bà (Ga
19,26-27), lời mà truyền thống hằng không ngừng hiểu là có ư nghĩa
chỉ về sự việc Đức Maria là Mẹ của toàn thể các môn đồ Đức Giêsu, của toàn thể Giáo hội vậy. Những tước hiệu của bà mẹ Giêrusalem xưa
kia, bây giờ được áp dụng cho bà mẹ Maria. Trong tông thư Ineffabilis Deus (8-12-1854), khi minh định tín điều
Đức Maria đă được thụ thai vô nhiễm nguyên tội, Đức Piô IX cũng đă nhắc lại về sự việc các Giáo Phụ
thường dùng lời của các tiên tri mà gọi Đức Maria với nhiều danh hiệu khác nhau, như
Bồ câu trắng
bạch, Giêrusalem thánh thiện,ở Ngai cao tinh tuyền của Thiên Chúa, v.v...
Qua bài ca Magnificat, Đức Maria không chỉ cảm tạ v́ những kỳ công Thiên Chúa đă thực hiện nơi Người, mà c̣n trong cả toàn bộ lịch sử của Ítraen nữa. Bài ca ấy đi song song với bài ca của bà Anna trong Cựu Ước (1Sm 2,1-10): phần một (Lc 1,46-50) đề cập đến t́nh trạng bản thân Đức Maria; c̣n phần hai (Lc 51-55) th́ nói lên những lời của người Thiếu nữ Sion cánh chung, tức là xác nhận cho thấy rằng những ǵ dân Chúa hy vọng mong chờ bấy lâu, đă trở
thành hiện thực ở nơi ḿnh: Chúa độ tŕ Ítraen, tôi tớ của Ngài, như đă hứa cùng cha ông chúng ta... Từ nay, những ai là hèn kém, khiêm
hạ, đói nghèo sẽ nh́n đến và ca khen Nữ tỳ này, v́ những việc kỳ diệu Chúa đă làm cho
Người.
C. Theo Kinh Thánh, Đức Maria là người phụ nữ tuyệt vời.
Đức Gioan Phaolô II thường dùng danh tước người Phụ Nữ của Kinh
Thánh mà chỉ về Đức Maria, và đă đặc biệt căn cứ theo St 3,14; Ga 2,4;
19,26, để tóm kết tư tưởng của ngài như sau: Sự hiện diện đặc biệt của Mẹ Thiên Chúa trong mầu nhiệm Hội Thánh, làm cho chúng ta nghĩ đến mối liên hệ đặc trưng giữa người `phụ nữ' này và toàn thể gia đ́nh nhân loại. Mulieris Dignitatem, số 2.Lịch sử cứu chuộc bắt đầu tại trong vườn địa đàng, với lời hứa: Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người phụ nữ, giữa ḍng giống ngươi và ḍng giống bà. Ḍng giống
bà sẽ đạp
đầu ngươi, c̣n ngươi th́ sẽ táp lại gót chân (St 3,15).
Theo nghĩa đen, lời này nói về người phụ nữ Evà và ḍng giống
bà, tức là về những con người sẽ trung thành theo
đường lối Chúa và nhờ thế, sẽ thắng được các lực lượng tội ác. Trong bản
dịch Hy lạp
(LXX), ḍng giống dùng ở số ít, muốn ám chỉ về một cá nhân; c̣n bản dịch Aram của targum Palestin th́ hiểu ḍng giống ấy là Ítraen trung kiên giữ Luật Môsê. Trong Tân Ước, sách Khải huyền, chương 12, đă đọc lại đoạn St 3,15 theo ánh sáng của Kitô học và Giáo hội học: con rắn là ma
quỷ
(Kh 12,9), c̣n ḍng giống của Bà là những kẻ nắm giữ lịnh truyền của Thiên Chúa và mang ở nơi ḿnh dấu chứng của Đức Giêsu (12,17). Tác giả tŕnh tả về người phụ nữ đang thai nghén
và kêu la đau đớn v́ quằn quại sinh con (12,2); con
trai Bà đă sinh ra được cất bổng lên nơi Thiên Chúa (12,5). Đó là ai? Các nhà chú giải so sánh đoạn
này với Ga 16,21-22, và kết luận rằng: Bà đau đớn sinh con tượng trưng cho mầu nhiệm Vượt qua, giờ của Đức Kitô chịu chết và sống lại. Hơn nữa, theo Công vụ
các Tông đồ, Giáo hội đă dùng các Tv 2 và 110 để giải thích rơ về mầu nhiệm phục sinh; thế th́, giống như các câu mở đầu Tv 2,8.9 và 110,1, Kh 12,5 chỉ về Đức Kitô lên Trời
vinh hiển. U. Vanni c̣n đề nghị một cách giải thích khác: Bà sinh
con ấy là mỗi
một cộng đồng kitô trong
lịch
sử, đang chịu khổ giữa những gian truân bách hại, để sinh ra Đức Kitô cho xă hội
(xem Kh 12,13-18). Ugo Vanni, La decodificazione del `grande segno' in
Apocalisse 12,1-6 trong Marianum 40 (1978) 121-152.
Trong h́nh ảnh người phụ nữ Khải huyền ấy, có c̣n chỗ cho Đức Maria hay không? Truyền thống của Giáo hội đă trả lời là có. Đức Gioan Phaolô II minh nhiên áp dụng dấu lạ vĩ đại trên trời trong sách Khải huyền cho Đức Mẹ hồn xác lên trời, như vẫn đọc thấy trong ca nhập lễ ngày 15 tháng 8. Xem
Redemptoris Mater, số 50. Thần học th́ nêu rơ những điểm sau đây: a) Nếu Bà của Kh 12 ám chỉ về giờ của Đức Kitô, th́ cũng
cần phải nhớ rằng bên cạnh thập giá, trong giờ ấy, đă có Đức Maria đứng
đó cùng với môn đệ dấu yêu đại diện cho các môn đồ của Chúa; b) Bà có mặt trời bao quanh tất sẽ làm cho liên tưởng đến và thật sự có liên quan với Đức Trinh Nữ đầy ơn sủng (Lc 1,28), Người Trinh nữ có t́nh yêu của Mặt Trời công chính là Thiên Chúa bao phủ; c) nếuu Bà sinh con của Kh 12 ám chỉ
dân Chúa, là dân đă sinh ra Đấng Thiên Sai, th́ trong
lịch sử, chính Đức Maria, người Thiếu Nữ Sion, đă thực sự sinh hạ Đấng Mêsia; thế nên, biểu tượng ấy cũng có thể chỉ về người nữ đang sinh Con tại Bêlem; d) nếu
Bà đau đớn ấy tượng trưng cho các tín hữu phải chịu khổ v́ đức tin, th́ Đức Maria, người đă tin trước hết và một cách đặc
thù, cũng đă chịu lưỡi gươm đâm thâu (Lc 2,35), v́ ḷng tin ấy có khi đă không hiểu thấu được thân phận của Con ḿnh (xem Lc 2,48-50); e) Kh 12,1t tượng trưng cho Giáo hội bị áp bức; nhưng cũng đừng quên rằng Đức Maria là phần tử đặc trưng của Giáo hội Giêrusalem (Cv 1,14),
một Giáo hội
đă phải chịu truy hại rất sớm (Cv 4,4t; 5,17t;
6,9t,vv); f) cuối cùng, mỗi một lần nh́n lên mẹ-Giáo hội, hiền thê của Con Chiên và là Giêrusalem trên trời (Kh 21,1t), là hiển nhiên trong h́nh ảnh ấy, bao giờ người tín hữu cũng nhận ra bóng dáng Đức
Mẹ hồn xác lên trời, đại diện cho toàn bộ cộng đoàn tín hữu kitô bên ngai Thiên Chúa.
Như thế, Đức Maria là người phụ nữ của thời khởi nguyên cũng như của lúc kết cục chương tŕnh cứu chuộc. Và cả nơi tâm điểm của chương tŕnh đó nữa, cũng vẫn có mặt của người phụ nữ ấy. Trong thư gửi giáo đoàn Galata, thánh Phaolô viết: Khi thời gian tới hồi viên măn, Thiên Chúa
đă sai Con ḿnh đến, sinh làm con của một người phụ nữ... (Gl 4,4). Như vậy, Kinh Thánh đă
muốn ám chỉ
đến vai tṛ của Đức Maria theo tư cách là phụ nữ, trong công tŕnh cứu rỗi của Đức Kitô. Phúc Âm thánh
Gioan nêu rơ việc can thiệp của người phụ nữ (Ga 2,4) bên cạnh
Đức Kitô tại
Cana, khi Ngài bắt đầu cuộc đời công khai,
và cho thấy
việc can thiệp
ấy làm cho giờ của Đức Kitô dù chưa tới lúc đến, th́ cũng đă phải đến trước kỳ hạn; rồi một khi giờ đă tới thật sự và công tŕnh đă
hoàn tất (Ga 19,30), th́ Ngài
phó thác môn đồ yêu dấu (tượng trưng cho toàn thể cộng đoàn kitô) cho bà (câu 26). Đă đành, đó là một vai tṛ làm trung
gian; nhưng, nếu đă nhấn mạnh nhiều như thế đến tính cách bà, th́ chắc hẳn Kinh Thánh muốn nêu bật cho thấy nữ tính chính là đặc điểm của vai tṛ Đức Maria đóng giữ trong phương án của Thiên Chúa. Và có lẽ v́ nữ tính thường mang phẩm chất thi vị, cảm thụ, trực giác, hơn là duy lư, cho nên
các đoạn văn ám chỉ về Đức Maria thường được cấu kết theo thể dạng bóng bảy, đa nghĩa,
hàm ư, và những kết luận thần học th́ thường được rút ra từ những cảm nhận trực nghiệm hơn là từ cách thức suy diễn chặt chẽ. Đúng như Đức Gioan Phaolô II nhận định, Đức Maria là người phụ nữ đại diện và nguyên mẫu
của toàn thể
nhân loại: là bản thể của chính nhân tính mà hết thảy mọi con người trong nhân loại đều có chung ...Mulieris Dignitatem,số 4; nhưng
đàng khác, Người cũng là biểu tượng nêu cao nữ tính của chính Thiên Chúa.
Mẹ Đồng Trinh
Trong lănh vực này, tín điều căn bản là chính mệnh đề sau đây của
kinh Tin kính: [Đức Kitô] đă sinh ra
nhờ Chúa Thánh Thần, bởi Đức Trinh Nữ Maria (DS 10: ...natus est de Spiritu Sancto ex Maria
virgine). Đức Maria là Mẹ của Đức Giêsu: đó là
điều hiển nhiên. Nhưng hơn nữa, Giáo hội lại c̣n tin rằng Người là Mẹ Thiên Chúa, và là Mẹ đồng trinh.
Mẹ Thiên Chúa
Lời chào của sứ thần Gabriel báo cho biết là hài nhi sắp
sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa (Lc 1,35); nói cách
khác: là Đấng Thiên sai, Đấng Mêsia. Những tước hiệu cao cả (câu 32) và thánh (c.35) chỉ về tính chất siêu việt, cũng như lời của bà Êlidabét thốt lên thân mẫu Chúa tôi (c.43): tất cả đều làm cho độc
giả kitô hiểu
rằng Đấng ấy phải là một Đấng cao cả hơn Vị thiên sai Do thái. Giáo hội hằng suy nghiệm như thế này: Đức Maria là mẹ của Đức Giêsu; mà Đức
Giêsu là Thiên Chúa; thành thử Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Liên hệ mẹ con là liên hệ
của ngôi vị
đối với ngôi vị, chứ không phải là liên hệ giữa hai bản tính: một người mẹ không phải là mẹ của xác thể hoặc của bản chất con ḿnh, nhưng là mẹ của chính cá nhân người con; cũng vậy, Đức Maria là Mẹ của Đức Giêsu, là Ngôi Lời, là
Ngôi Hai trong Tam Vị Thiên Chúa, là Mẹ Thiên Chúa vậy. Để ứng đối với lạc giáo Nestôriô, công
đồng Êphêsô (năm 431) đă định tín Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, và đă
dùng đến một tĩnh từ nghe qua hơi chói tai là theotókos
(sinh Thiên Chúa) hầu nhấn mạnh đến chân lư ấy. DS 251; sau đó,
tín điều đă được công đồng
Canxêđôn nhắc lại (DS 301), cũng
như đă được công đồng
Vaticanô II tŕnh bày trong Hiến chế tín lư về Giáo hội, chương VIII. Xin xem thêm
thông điệp Redemptoris Mater, số 4, 31-32, và tông thư Mulieris Dignitatem, số 4. Đó là tín điều đặc trưng của Giáo hội công giáo cả
bên Tây lẫn bên Đông phương. Xem A. Kniazeff, La Mère de Dieu dans
l'Église Orthodoxe, Paris, Cerf 1990.
Trong thời đại chúng ta, để tránh những ngộ nhận bất lợi từ phía các anh chị em không công giáo, có lẽ tốt hơn là nên dùng danh hiệu Mẹ Đức Kitô hơn là danh hiệu Mẹ Thiên Chúa. Nhưng
thế nào đi nữa, th́ cũng phải ư thức rằng các đặc
ân đặc quyền hết thảy của Đức Maria đều
phát nguyên từ nguồn suối thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa, và nếu chúng ta có tán dương, chúc tụng, có kêu khấn đến Người, th́ chính v́ Thánh Maria là Đức Mẹ Chúa Trời vậy.
Đồng Trinh
Ngày nay mà nói về một người mẹ đồng trinh, th́ sẽ gặp phải vấn nạn phản ứng nhiều hơn là ngày trước. Việc trinh sản xem có vẻ thần thoại, và những người chống đối thường nêu lên không biết bao nhiêu là trường hợp tương tự gặp thấy trong lịch sử các tôn giáo. Ngày xưa, Pharaô, vua Ai cập, cũng đă tự xưng là Con Trời; có truyện kể lại rằng Zôrôastrô, vị sáng lập bái hảo giáo, cũng đă sinh ra từ một người mẹ đồng trinh; rồi truyền thuyết về Đức Phật cũng tŕnh thuật tương tự như thế; c̣n về Đức Giêsu th́ sao? Các bài tường thuật của Tân Ước th́ đă kết tinh ngay khi nhiều người từng quen biết Đức Giêsu trước kia vẫn c̣n sống: khó mà giả mạo
được. Các tác giả tŕnh thuật đều là người Do thái, đều
quan niệm về một Thiên Chúa hoàn toàn
siêu việt, không thể nào ḥa lẫn với tạo vật được; hơn nữa, họ gớm ghét những chuyện thần thoại, coi đó như là những ǵ đáng ghê tởm; mẫu mực của họ là lịch sử Cựu Ước: nhưng trong Cựu Ước th́ chẳng có một trường hợp nào nói về một người mẹ đồng trinh cả, và quan trọng hơn nữa không một lời tiên tri nào, không một niềm hy vọng nào mang bóng dáng ám chỉ tới sự việc người mẹ của Đấng Thiên sai sẽ là đồng trinh. Vậy, sở dĩ họ đă tŕnh thuật như thế, th́ chính là v́ họ đă đích thân nghe tận tai, thấy tận mắt những người làm chứng như vậy.
Phúc Âm thánh Luca (1,35t)
nói rơ về
việc Đức Maria sẽ thụ thai một cách kỳ diệu: Người nói ḿnh không biết đến, không có (liên hệ với) người nam, nhưng sứ thần trấn an nói rằng: Thánh Thần sẽ đến trên Người và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Người, ám chỉ tới đám mây bao phủ Nhà tạm với Ḥm bia giao ước (Xh 40,35); cho nên, điều mà loài người không thể làm nổi (thụ thai không có người nam, hoặc
do một người nữ son sẻ), th́ Thiên Chúa có thừa sức để làm (c.37). Có những nhà chú giải,
sau khi đem so sánh với Ga 1,13, đă hiểu câu 35b: ṭ gennômenon hágion: sự sinh ra thánh như
là một lời hàm chứa ư nghĩa của sự việc sinh sản kiên trinh. I. de la Potterie, Il parto verginale del
Verbo incarnato: `non ex sanguinibus..., sed ex Deo natus est' (Gv 1,13), trong
Marianum 45(1983) 127-174; xem P. Hofrichter, Nicht aus Blut sondern monogen
aus Gott geboren, Echter Verlag, Wuerzburg 1979.
Thánh Mátthêu 1,18-25 khẳng định rơ ràng rằng: trước hết, thánh Giuse không phải là cha đẻ
của Đức Giêsu, mặc dầu thánh sử cho biết Đức Giêsu là con của
Đavít bởi ḍng tộc của Giuse (1,16); trong bản gia phả, Mt đă đều đặn nêu lên sự việc ông này sinh ông nọ; nhưng lạ thay, khi đến
lượt Giuse, th́ Mt không
nói tiếp: Giuse sinh..., mà lại đổi cách nói thành: Giuse
là bạn của bà Maria... Và câu 18
c̣n lưu ư rơ hơn
nữa để
nói rằng dù đă kết hôn với nhau, th́ trước khi hai ông bà về chung sống, bà đă có thai
do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Dù sau này người ta có giải thích thế nào đi nữa,
th́ không một ai có thể phủ nhận được là Mt 1,18t đă
thực sự khẳng định rơ về điểm này. Trong cuốn nổi tiếng mang nhan đề The Virginal Conception and Bodily
Resurrection of Jesus, (New York 1973),
R.Brown đă kết luận rằng nếu chỉ nghiên cứu Kinh Thánh một cách thuần túy khoa học mà thôi, th́ không thể nào giải đáp được vấn nạn này; nhưng đức tin vẫn c̣n có chứng tá của truyền thống nữa. Đáng chú ư nữa
là câu Mt 1,23: Này, trinh nữ sẽ thụ thai..., trưng dẫn lời Is 7,14. Trong tiếng Hy pri, có từ
`almah', nghĩa là thiếu nữ và ám chỉ tới sự việc Abia, vợ của vua Akhaz, sẽ thụ thai làm mẹ của Êdêkya (2V 18,2); Mt
áp dụng sấm ngôn ấy cho trường hợp của Đức Kitô, là Emmanuel thật, và dẫn lời theo bản LXX đă cố ư dịch từ `almah' ra `parthenos', nghĩa là đồng trinh: Mẹ của Đấng Emmanuel là một
trinh nữ.
Dù nhận là Trinh nữ Maria đăă thụ thai Đức Kitô, th́ trong số cũng c̣n có nhiều người vẫn không chịu nhận Đức Mẹ là trọn đời đồng trinh. Lư do theo họ, là v́ Tân Ước đă nói đến các anh chị em của Đức Giêsu. Xem các câu:
Mc 3,31-32ss; 6,3ss; Cv 1,14; 1Cr 5,5; Gl 1,19. Sở
dĩ Giáo hội
tuyên tín về Đức Maria trọn đời đồng trinh, là v́ từ những thế hệ đầu tiên, ngay khi những người quen biết Đức Giêsu vẫn c̣n sống, các tín hữu kitô đă không ngừng tin nhận và tuyên xưng như vậy. Trong phụng vụ, Giáo hội dùng từ aeiparthenos trong tiếng Hy lạp, và từ semper virgo trong tiếng Latinh, để
xướng danh Đức Mẹ; cả hai từ ấy đều có nghĩa là trọn đời đồng
trinh (xem Vaticanô II, LG 52). Giáo lư ấy đă từng được công đồng Cônstan-tinốp
II chuẩn nhận (năm 552: DS 427) và công
đồng Latêranô (năm 649: DS 503) tuyên dạy. Anh chị emở Tân Ước nói tới đây, là anh chị em họ, như có thể thấy rơ trong trường hợp của Giacobê
và Giuse (Mt 13,55) là hai người con của Maria khác (Mt
27,56); ngoài ra, nếu Đức Maria đă có những người con khác nữa, th́ Đức Giêsu sẽ không thể làm một hành động
bất hiếu như thế, tức là phó thác Mẹ
ḿnh cho Gioan là một người không phải anh em ruột thịt trong gia đ́nh
ḿnh. Về điểm giáo lư này của
Giáo hội, xin xem Giáo Lư Giáo
Hội Công Giáo, các số 496-507. Đó là chưa nói tới sự việc trong Cựu Ước, Abraham đă nói
với Lot, người cháu gọi ông bằng bác, là: Chúng ta là anh em mà! (St 13,8).
Thực ra,
đó không phải là một vấn nạn đối với người Châu Á hằng quan niệm rằng: Tứ hải giai huynh đệ.
Maria: Kẻ đă tin
Phúc Âm c̣n muốn cho chúng ta chú ư tới một đặc nét khác của Đức Maria: đó là ḷng tin. Bà Êlidabét
đă thán phục thốt lên: Em thật diễm phúc v́
đă tin... (Lc 1,45). Hơn cả Abra-ham, tổ phụ của những kẻ có ḷng tin, Maria là hiện thân của ḷng tin hoàn hảo. Xem Ibid. số
148. Nếu không có đức tin, th́ dù có làm Mẹ Thiên Chúa cũng
chẳng được lợi ích ǵ. Khi một bà kia kêu lên: Phúc thay bà mẹ đă cưu mang và cho Thầy bú mớm!, Đức Giêsu liền trả lời ngay rằng: Phải, nhưng phúc c̣n lớn hơn nữa cho những ai biết nghe và noi giữ lời của Thiên Chúa (Lc 11,27-28). Truyền thống thường nhắc lại lời sau đây của thánh Âugutinô: Khi tin nhận Đấng Kitô, th́ Maria có phúc hơn là khi đón nhận xác thể của Đức Kitô. De sancta
virginitate, 3.
Trân trọng chào mừng: Kính mừng, hỡi ai đầy ân sủng! (kekharitôménê) là thiên sứ Gabriel vén mở
cho thấy kết quả của ḷng tin nơi Đức Maria, của niềm tin tưởng đặt cả ở nơi Thiên Chúa. Động từ kharitóô
(kekharitôméneâ là động tính từ quá khứ thụ động) có nghĩa là làm cho ai đáng được sủng ái (xem Ep 1,6); v́ vậy, Đức Maria được chào kính như
một người đă được Thiên Chúa thanh luyện, Thánh Sôphrôniô, Oratio II in Annuntiatione,
25, PG 87/3,3248. đă được thánh hóa nói theo lề lối diễn đạt của truyền thống nhờ ơn trinh khiết hầu sửa soạn cho Người trở nên Mẹ Đấng Thiên sai. Lời
nói rằng: tôi không biết đến người nam, để
lộ thực trạng hiện sinh của đời Đức Maria, thực trạng sống đồng trinh,
và v́ tin tưởng vào Thiên Chúa, nên Người ao ước được tiếp tục sống như vậy. Ḷng trinh tiết
ấy là biểu
tượng của đức tin, của niềm xác tín tin rằng chẳng có ǵ mà Thiên Chúa
không làm được (Lc 1,37 đối chiếu với Mc 9,22); c̣n đức tin nơi Maria là thành quả của chính ơn sủng Thiên Chúa ban, là
phần hành động của tự do con người ứng đáp đối với ơn thánh, là phần con người hợp tác vào trong công
tŕnh hiện thực hóa mầu nhiệm nhập thể.
Bấy giờ Maria mới có thể thưa Xin vâng. Lời này thâu tóm toàn bộ kinh
nghiệm
đức tin của Cựu Ước. Tinh túy của
đức tin Ítraen là thái
độ đón nhận giao ước: Sau khi lắng nghe Môsê tŕnh bày về các điều khoản trong khế ước giáo kết với Giavê, toàn dân đồng thanh đáp thưa: Tất cả những ǵ Giavê đă
phán bảo, chúng tôi xin làm theo (Xh 19,8; 24,3.7). Đó chính là lời fiat/xin vâng của Ítraen, là lời
đă làm cho dân Ítraen trở nên hiền thê đính ước của Giavê (xem Ed 16,8);
và Thiên Chúa chỉ muốn có một điều duy nhất ở nơi họ, là họ trung thành giữ lời thề hứa ấy (Đnl 5,28-29). Như Giavê đă dùng Môsê làm trung gian mà trao
đổi giao dịch với Ítraen, th́ Ngài cũng dùng sứ thần Gabriel làm trung gian để hỏi ư Đức Maria. Như xưa kia dân Ítraen đă ứng đáp: Chúng tôi
xin vâng giữ lời Ngài đă truyền, Gs 24,24; xem những công thức biểu đạt
tương
tự như nhau trong Xh 19,8;
24,3.7; Er 10,12; Nkm 5,12v và 1Mcb 13,9. th́ bây giờ, người Thiếu Nữ Sion là Maria, hiện thân của Ítraen trung tín, cũng thưa lên: Tôi xin vâng như lời sứ thần truyền, và như thế là giao ước mới khởi đầu.
Tự bản chất, đức tin th́ tối tăm và hằng đặt tâm trí vào trong t́nh trạng tự hủy (kenosis). Sau những ngày Bêlem tràn ngập ánh sáng, Maria bế Con vào Đền Thờ để chu tất Lề Luật (Xh 13,2.11-16): là nữ t́ của Chúa th́ phải giữ Luật, không ỷ vào các đặc quyền mà thoái thác; ở đấy, Người phải nghe sấm ngôn u ẩn cụ già Symêon nói: Này! Con bà... sẽ làm dấu gợi lên chống đối, và hồn bà, mũi gươm sẽ đâm thâu... (Lc 2,34-35). Lời kia, lời tiên báo mà Đức Gioan Phaolô II gọi là lời truyền tin thứ hai cho Đức Maria, Redemptoris Mater, số 16. áp dụng cho Đức Mẹ sấm ngôn của Êdêkien nói với Ítraen, Tiên tri lên tiếng chống lại Ítraen tội lỗi: Nếu tôi đem gươm đến phạt xứ ấy và bảo: Gươm hăy rảo khắp xứ... 14,17. và để lộ cho thấy hai mặt của đức tin: bộ mặt rự