Đức Maria, M Chúa Kitô,Trong Giáo Hi

 

Felipe Gómez Ngô Minh, SJ

 

Trong lịch s Giáo Hi cũng như trong các nhà th công giáo, đa v ca Đc Maria hin hin ni bt hn. Đi vi người không công giáo, xem ra người kitô chúng ta dành cho Đc M mt uy thế ngang hàng vi Thiên Chúa, và dĩ nhiên là hu h́nh hơn. Nhng hc thuyết hoc nhng phong trào lc giáo (lc giáo cũng có nhiu điu đúng lm ch!), nht là Tin lành, đă nhiu ln ln tiếng ch trích các khuynh hướng quá đáng y. Trong nhng thp k gn đây, có th nhn ra hai hin tượng đi nghch: mt là b rơi nhng tp quán sùng m đo đc đi vi Đc M và bt gim s quan tâm hc hi v Người trên phương din tri thc, hai là thái đ mê mi vi các v hin ra và các s đip ca Người; c hai khuynh hướng không quân b́nh này đu gây hi cho đi sng Giáo hi.

 

Nguy hiểm mà nhng khuynh hướng nói trên đưa ti, là th mi bt bóng ri cui cùng đi đến ch ch c̣n coi tôn giáo như là mt điu ǵ quá ư tru tượng hoc quá lt lo. Mc khi t rơ cho thy Đc Maria đóng gi mt đa v quan trng trong mi liên h mà Thiên Chúa có đối vi loài người. Vai tṛ y, công đng Vaticanô II đă tóm tt nói lên khi nhn đnh là: Đc Maria đă lănh nhn mt nhim v và vinh d cao c là được làm m Con Thiên Chúa, và do đó, làm ái n ca Thiên Chúa Cha, cùng làm cung thánh ca Chúa Thánh Thần. Hiến Chế Tín Lư v Giáo Hi" s 53.

 

Vậy, th xem đc tin và thn hc hin ti nghĩ ǵ v Đc M Chúa Tri. Sau đây là mt s tác phm căn bn v Maria hc, như: tác phm tp th Kexaritomene, Mélanges René Laurentin,Paris, Desclée 1990; Mater Dei et Fidelium, Collect Essays to honor ,Théodore Koehler, University of Dayton, Ohio 1991. "Marie, Étoile de l'Évangélisation, Les XIe Congrès Mariologique et le XVIIIe Marial Internationaux (Huelva, 18-27 Sept. 1992); K. Rahner, Mary, Mother of the Lord, 1958; E.Schillebeeckx, Mary, Mother of the Redemption, 1964; M. Thurian, Mary, Mother of All Christians, N.Y. Herder & Herder 1964; R. Laurentin, Court traité sur la Vierge Marie, Paris, Lethielleux 1967; Idem, Marie, Mère du Seigneur. Les beaux textes de deux millénaires, Paris, Desclée 1984; X. Pikaza, La madre de Jesús. Introducción a la Mariología, Salamanca 1989; G. Gharib et alii, Testi mariani del primo millenio, I,II,III, Roma, Città Nuova Ed. 1990; F.-X., Durrwell, Marie: Méditation devant l'Icône, Paris, Médiaspaul 1990.

 

Những Vn Nn

 

Suốt nhiu thế k, giáo lư v Đc Maria đă tim tiến trin phát song song vi cách thc sng đo và l li c hành phng v, mà không gp phi mt vn đ đáng k nào. Tuy nhiên, gn đây Maria hc đă phi tri qua mtn khng hong khá nng n, v́ mt s lư do như sau: trước hết, thn hc v Đc Maria đă tp trung hết c chú tâm vào nơi các đc ân ca Người, làm như tách Người ra khi Đc Kitô và Giáo hi, biến Maria hc tr thành mt giáo tŕnh thn hc đơn lp; thêm vào đó lại có nh hưởng ca phong trào đi kết: nhy cm trước các li phê b́nh ca các anh ch em Tin lành, và mun phn ng mt cách gi là tích cc, nhiu người công giáo (nht là các hc gi Kinh Thánh) c nín lng, tránh nêu ra các gi thuyết hoc các tập tc cho là nc mùi công giáo; và cui cùng là s vic gii chú gii đă b chi phi quá nhiu bi phương pháp phê b́nh lch s khi bàn v Đc Maria.

 

Đành rằng mc đích ca loài người là sng cho và trong Thiên Chúa. Tuy nhiên, đ hin thc tiêu đíchy, chính Thiên Chúa đă mun gp g vi chúng ta qua Đc Maria: Người là ca Thiên Chúa đi qua đ đến vi loài người và ngược li. Theo Thánh Kinh, Thiên Chúa hng gn chúng ta; thế mà thn hc li ly các phm trù siêu h́nh hc đ suy din v mt h́nh nh Thiên Chúa rt là xa vi: v mt Đng hoàn toàn bt biến, bt kh tri lun, toàn năng toàn tri, vô cm vô tư, v.v., tt mt li, v mt Đng khác hn và ngược hn vi tt c nhng ǵ thuc v thế gii loài người, không th nào đt ti được.

 

May mắn thay, đă có Đức Kitô làm trung gian. Nhưng, mt ln na, con người cũng vn c̣n hiu lm v Đng Trung gian: Đc Giêsu không phi là mt v môi gii gia Thiên Chúa y và loài người; Ngài là trung gian, v́ nơi Ngài chính Thiên Chúa ca Thánh Kinh. Khi nói về Thiên Chúa của Thánh Kinh, là người ta mun ám ch ti h́nh nh ca Thiên Chúa t hin trong sách Thánh; nghĩa là ca mt Thiên Chúa gn gũi vi dân Ngài, ca mt Thiên Chúa biết phn ng trước cnh kh đau và bt công ca dân Ngài, ca mt Thiên Chúa hng đối thoi, hng kết giao vi loài người, hng biết yêu thương và cm thông su kh..., tc là v mt Thiên Chúa mun gp g vi chúng ta và con người chúng ta đă tr thành mt; bn thân Ngài là chính Thiên-Chúa--vi-chúng-ta mi ngày cho đến tn thế (Mt 28,20). Nhưng Đc Kitô là Đng quá cao c, vi li Ngài c̣n là Đng Thm Phán cánh chung, thế nên, con người vn thp hèn và ti li vn cm thy e dè, không dám mnh dn đến vi Ngài...

 

Thêm một ln na may mn là đă sn có Đc Maria: là người n tượng trưng cho ḷng du hin nhân ái, khoan dung và d mến; là M hng sn ḷng cu cho ... nhng k có ti. Kết qu là các tín hu tp np tuôn đến vi Đc M, v́ h quan nim cho Người là nhân t hơn Chúa Kitô; h đt thêm nhiu danh hiu cho Người, như Đc M Hng Cu Giúp,Đ. M Mân Côi, Đ. M L Đc, Đ. M Fatima, Đ. M Lavang,v.v..., đến ni mt đàng trong các nhà th và ti các nhà riêng, có nhiu tượng nh khác nhau ca Đc Maria hơn là ca Chúa Giêsu, và đàng khác, người ta có cm tưởng là Giáo hi công giáo tin vào rất nhiu Đc M rt khác nhau. Thánh Bênađô li nói rng: de Maria numquam satis, nói v Đc Maria th́ không bao gi cho đ, thế nên, người ta có khuynh hướng c nâng Người lên cao hơn măi, c tăng s nhng đc hu đc quyn ca Người thêm nhiều hơn; tu trung, khuynh hướng y cũng li làm cho Đc M tr thành quá thánh thin, quá siêu vit, quá cao c xa vi...: mt N Vương Thiên Đàng xa xăm; rt cuc, con người li đành phi đi t́m nhng v trung gian thp hơn, gn gũi hơn na: đó là các Thánh!

 

Là những con người thun túy, đă sng cnh ti l như bt c ai khác, nên các Thánh có th thông cm hơn vi nhng nhu cu hng ngày ca con người yếu đui... C̣n có c nhng v Thánh chuyên môn lo điu này cái n na cơ!, như ông thánh Antôn, ông thánh Máctinô, hay bà thánh Têrêxa, v.v... Người ta tưởng tượng ra mt thiên triu ging như triu đ́nh trn thế, hoc như các cơ chế ca mt chánh ph. Nhưng tht ra, các Thánh không gn chúng ta hơn Thiên Chúa đâu; trái li, chính v́ Thiên Chúa gn chúng ta, nên trong Người và trong Chúa Kitô, các Thánh mi có th gn gũi vi chúng ta được. Nếu Đc M nhân t, th́ chính là v́ Thiên Chúa, Đng đă dng nên Đc M, là Đng nhân t vô cùng.

 

Giáo hội luôn luôn cu nguyn nh Chúa Giêsu Kitô. Nếu chúng ta được phép cu nguyn nh Đc Maria, nh các Thánh, th́ chính là v́ tt c chi th ca Đc Kitô đu liên đi vi nhau, như tín điu các tháánh thông công. Khi chúng ta nói là các Thánh thông công, th́ điều đó mun nói là các Thánh nhân, tc là các chi th ca Nhim Th Chúa Kitô, đu liên đi vi nhau, và các điu thánh, tc là các bí tích, công đc, v.v..., đu được thông chuyn, chia s vi nhau và cho nhau. Cu xin mt điu ǵ nh Đc Maria hoặc nh các Thánh bu c, y là ly công đc ca các ngài cũng như là ca ta, hip vi công nghip ca Đc Kitô, mà xin Thiên Chúa ban ơn xung cho. Đc Maria không có th ban ơn; ch mt ḿnh Thiên Chúa mi có quyn ban ơn. Đc Maria là mt to vt như chúng ta: Người ch có th đón nhn ơn và cu thay nguyn giúp xin Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta. hng dy cho chúng ta biết. Nhiu nhà thn hc đă tranh căi v thành ng Đc Maria Trung Gian; và dù công đng Vaticanô II có gi M là Đng Trung Gian (LG 62), th́ cũng vn không quên lưu ư cho thy ngay rng đó ch là mt vai tṛ trung gian ph thuc đi vi Đng Trung Gian duy nht là Đc Kitô (1Tm 2,5).

 

Gần đây Giáo hi đă minh đnh hai tín điu v Đc Maria: tín điu vô nhim nguyên ti (năm 1854) và tín điều mông triu thăng thiên (1950); s vic đó đă có th thúc đy quá trn ḷng sùng đo ca mt s người ưa nhn mnh đến các đc quyn đc hu ca Đc Maria, đến đ có người công giáo đă coi M như mt v thn linh đc lp, như mt v phó Thiên Chúa... Dĩ nhiên là thần hc không bao gi quên rng Đc M thuc v Con ca Người, các đc ân đc quyn y là ơn ca chính Con ban cho M, v.v...; nhưng trong cách sng đo hng ngày, người ta thường có thói quen trc tiếp cu xin vi Đc Maria mà quên hàm ch đến Con của Người; trong cách biu đt ngh thut qua hi ha hay điêu khc, li thy có nhiu nh tượng tŕnh xut mt ḿnh Đc Maria, không c̣n bế Con như thường thy trong truyn thng ngh thut thi xưa. Đó là mt s chi tiết làm cho thn hc băn khoăn và cảm thy có bn phn cn phi tŕnh bày li giáo lư cho đúng đn hơn v đa v và vai tṛ ca Đc Maria trong kế hoch cu đ ca Thiên Chúa. V́ thế, cũng cn nh li li sau đây ca công đng chung Vaticanô II: Được cu chuc cách k diu hơn nh công nghiệp Con ca Người và hip nht mt thiết cùng bn cht vi Con ḿnh, Đc Maria đă lănh nhn nhim v và vinh d cao c là làm M Con Thiên Chúa, và do đó, được làm ái n ca Thiên Chúa Cha, cùng làm cung thánh ca Chúa Thánh Thn(LG 53).

 

Thánh Kinh Dạy Ǵ về Đc Maria

 

Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, và Thánh Truyn đáng kính, đu tŕnh bày ngày mt sáng t v vai tṛ ca M Đng Cu Thế trong nhim cuc cu ri, và nêu rơ vai tṛ y ra cho chúng ta chiêm ngưỡng (LG 55). V Đc Maria trong Thánh Kinh, xin xem A. Serra, E c'era la Madre di Gesù... Saggi diesegesi biblico-mariana (1978-1988), Milano-Roma 1989. Toàn bộ Kinh Thánh là Li ca Thiên Chúa, nhưng luôn luôn được nói qua li ca con người. Tác gi chính là Chúa Thánh Thn, Đng linh hng cho các ngôn sứ, các thi sĩ, các s gia, các nhà xut bn sách thánh và cho chính văn bn chúng ta đang đc bây gi; v́ thế, Kinh Thánh hàm xúc nhng ư nghĩa khá phc tp: ư ca thi sĩ son ra Dim Ca, ư ca nhà xut bn sách y như là mt phn ca b chính lc, và ư của mt Giáo Ph kitô chú gii v văn bn y chưa chc đă đng nht vi nhau; nhưng Thánh Thn giúp cho dân Chúa trong mi thi đi th hưởng được chân lư dn đưa đến cùng đích cu ri cui cùng. Khi Tân Ước đc Cu Ước, th́ vinh quang Phc Sinh soi chiếu cho bn văn bng mt ánh sáng mi, và khi Giáo hi đc c hai, th́ kinh nghim ngày nay làm cho vic nhn thc đt được đến nhiu ư nghĩa sâu rng khác, mà nhng đc gi thi trước đă không bao gi ng. Khi nghiên cu v Đc Maria trong Kinh Thánh, th́ cũng phi nh đến các đim đáng lưu ư y.

 

A. Maria học thường đc Cu Ước theo kiu tượng trưng.

 

Trong thánh sử có nhng biến c (như biến c xut hành Ai cp), nhng thc ti (như thành thánh Giêrusalem, như ḥm bia, chng hn), nhng h́nh bóng (như Người Tôi T Giavê, người Thiếu N Sion), có th được hiu nhiu cách khác nhau và áp dng vào nhiu trường hp cũng khác nhau. Trong kinh cu Lôrêtô, Giáo hi xướng danh Đc Maria bng nhiu tước hiu khác nhau đă được rút ra t Cu Ước; chng hn như Tháp Đavítở (Dc 4,4), Tháp ngà (Dc 7,4), Ca Tri (Tv 78,23), Sao mai (Hc 50,6), Ḥm Bia Giao Ước (Đnl 10,8. 25.25, v.v.); điu đó giúp chúng ta hiu phn nào v mu nhim ca M Thiên Chúa. Trong tông thư Marialis cultus (2-2-1974), Đc Paolô VI đă nhc nh đến s vic nhiu Giáo Ph đă gi Đc Maria bng nhng danh tước khác nhau, như Nơi cư trú ca Ngôi Li, Đn hoc Nhà Tm ca Chúa,Ḥm Bia Giao Ước hoc Ḥm thánh thin, v.v... (MC, II,1).

 

Tước hiu Ḥm Bia, chng hn, th́ đi đôi vi ư nim v giao ước. Sau khi Giavê kết giao vi dân Ítraen qua khế ước trên Núi Sinai, Người đă ra lnh xây mt nơi thánh đ cư ng gia h (Xh 25,8). Lúc đu là Nhà lu, sau là Đn th, nhưng c hai phi che gi Ḥm Bia có khc Mười Li (10 gii răn); như vy, Ḥm Bia tr thành dấu hiu ca Giavê hin din gia dân Người: Ta s đt Nhà Tm ca Ta gia các ngươi, và s không chán ghét các ngươi. Ta s đi đi li li gia các ngươi; Ta s là Thiên Chúa ca các ngươi, c̣n các ngươi s là dân ca Ta (Lv 26,11-12). Đ t rơ mt sự hin din đc bit trong nhng cuc thn hin, th́ đă có đám mây che ph Núi Sinai (Xh 24,16) hoc Lu Hi ng (Xh 40,34-35), hay Đn thánh Giêrusalem (1V 8,10-12).

 

n c theo Phúc Âm thánh Luca, Xin xem A. Feuillet, Le Sauveur messianique et sa Mère dans les récits de l'enfance de saint Matthieu et de saint Luc, Città del Vaticano 1990, chẳng hn. truyn thng công giáo đă áp dng cho Đc Maria biu tượng Ḥm Bia. Thánh Ambrô-siô viết rng: Ḥm Bia là ǵ, nếu không phi là Đc Trinh n Maria? Sermo 42.6, PL 17.689.; và trong văn kin được gi là Trng sc vàng Gloriosae Dominae (27-9-1748) chng hn, Đc Bênêđitô XIV đă viết là: [Giáo hi] gi Người là Ḥm Bia Giao Ước bí nhim, nơi đó Thiên Chúa đă thc hin nhng mu nhim hoà gii chúng ta; nh́n đến Người, là Thiên Chúa lin nh li Giao Ước và không th quên đi được ḷng thương xót ca ḿnh.

 

Như đám mây che ph đu trên (epeskíazen) Nhà Lu và như vinh quang Đc Chúa xung đy Nhà Tm (Xh 40,35), s thn Gabriel cũng ha vi Đc Maria rng: Thánh Thần s ng xung trên bà và quyn năng Đng Ti Cao s bao trùm che ch bà (episkiásei soi) (Lc 1,35); kết qu là ḷng d bà s tràn đy vi s hin din ca Đng thn thiêng, tương t như Nhà Lu và Ḥm Bia khi có đám mây che ph đu trên. Sau đó, thánh Luca tŕnh thuật v vic Đc Maria đi viếng người ch h ca ḿnh, là bà Êlidabét; đon tŕnh thut này song song vi chương sáu ca sách Samuen cun th hai, là chương thut li vic Đavít ch Ḥm Bia t Baalah đến Giêrusalem: c hai s vic tŕnh thut đu xy ra ti Giuđêa; và c hai đu k li nim hân hoan nhy mng sung sướng (2Sm 6,5-Lc 1,41); Ḥm Bia trong nhà Obêd-Eđôm và Đc Maria trong nhà Êlidabét đu đă mang li li chúc lành (2Sm 6,12-Lc 1,41); Đavít đă kêu lên: Làm sao Ḥm Bia Giavê đến trong nhà tôi được? (6,9); c̣n Êlidabét th́ b ng tht ra rng: Bi đâu tôi được hân hnh Thân Mu Chúa tôi đến viếng thăm? (1,43). Rơ là Thân Mu Chúa bây gi gi vai Ḥm Bia Giavê, v́ vy Êlidabét kính phc Đc Maria như xưa kia Đavít đă t ḷng kính trng đi vi Ḥm Bia. Cui cùng, Ḥm Bia đă lưu li ti nhà Obed-Eđôm ba tháng (2Sm 6,11), ht như Maria cũng đă li vi Êlidabét đ ba tháng (Lc 1,56). Tt mt li, khi Đc Maria thưa lên li Xin vâng, là Người chp nhn ư đnh ca Thiên Chúa đ ra đ sáng lập giao ước, và Thiên-Chúa--vi-chúng-ta đă thc s hin din trong Người; và v́ đă tin, nên Người đă tr thành tín hu s mt; ri chính v́ thế mà Người đă khánh thành cuc khai m giao ước mi. Gioan Phaolô II, Redemptoris Mater, s 17.

 

Cuộc thăm viếng này tỏ cho thy mt cnh tượng đy hnh phúc, hnh phúc thiên sai. Maria đy ơn phúc vi vă lên đường (Lc 1,39), ḷng ngp tràn nim vui, đ như thánh Ambrôsiô nhn đnh chia s ơn viên măn y vi người ch h. Thot nghe tiếng chào ca Maria, bà Êlidabét đă kêu lớn tiếng (anephônesen: là t ch được Tân Ước dùng đến có mt ln duy nht, tc là trong đon tŕnh thut này), ht như xưa kia dân Ítraen đă kêu lên trước Ḥm Bia (Cu Ước bng tiếng Hy lp cũng dùng đng t anaphônein: 1Sb 15,28; 16,4.5.42; 2Sb 5,13). Toàn bộ văn đon này nêu lên cho thy rng Đc Maria chính là M Chúa tôi và tht dim phúc v́ đă tin (Lc 1,43-45). Chúa đây chính là Đng Thiên sai tt nhiên là vi bn tính siêu vit và các t đă tin th́ ám ch đến cng đng các kitô hu, nghĩa là Đức Maria tượng trưng cho Hi Thánh các tín hu: Đc Maria là tín hu đu tiên ca Giáo Hi. C̣n nim hnh phúc ngp tràn tâm ḷng Đc Maria th́ li tung nn vang lên trong bài ca Magnificat (Linh hn tôi tung hô chúa) đ khen ngi Thiên Chúa v́ đă làm những điu to ln nơi mt k bé mn.

 

B. Giêrusalem là trung tâm của đi sng Ítraen:

 

Đối vi người Do thái, Giêrusalem tượng trưng cho Thiên Chúa hin din và quan pḥng, cho li ha và cho nim hy vng. Thành thánh được nhân hóa và được gi là Thiếu nữ (Con Gái) Sion. Theo kiểu nói Hy bá, đ nhân hóa, th́ mt nước hoc mt thành ph thường được gi là thiếu n, như: thiếu n Babylon (Tv 137,8), thiếu n Ai cp (Gr 46,11), thiếu n Êđôm (Ac 4,21). Núi Sion là đnh cao nht ca Giêrusalem, nơi Salomon đă xây cất Đn Th, tc là ch Ḥm Bia lưu ng (1V 8,1-8). Bi đó, Sion có nghĩa là núi thánh (Is 18,7), hoc là thành Giêrusalem (Is 37,32), và có khi cũng c̣n có nghĩa là c toàn b Ítraen na (Is 46,13); theo cách nói y, Thiếu n Sion là chính Giêrusalem (Gr 6,2t) và đôi khi là cả toàn b dân nước Ítraen (Xp 3,14).

 

Đức Maria được công đng Vaticanô II gi là Thiếu n Sion cao sang (LG 55), Xem E.G. Mori, Figlia di Sion e Serva di Jahwé nella Bibbia e nel Vaticano II, Ed. Dehoniane, Bologna 1970. và trong thông điệp Redemptoris Mater (M Đng Cu Chuc), khi bàn v hai li chào ca s thn Gabriel và bà Êlidabét, Đc Gioan Phaolô II viết rng: Trong tâm hn ca người `Thiếu N Sion' này, mt cách nào đó, đă hin lên tt c `vinh quang ca ân sng' mà Thiên Chúa Cha quyết đnh rng ban cho chúng ta nơi Con yêu du (RM,8). Nên chú ư là trong các văn kin này, t ng Thiếu n Sion mang mt ư nghĩa khác vi ư nghĩa trong Kinh Thánh; đây Thiếu n Sion không c̣n ch v Giêrusalem hoc Ítraen na, nhưng là ch về một thiếu n Do thái gia các thiếu n Do thái khác. Ư nghĩa này c̣n t hin rơ hơn na trong tông thư Mulieris Dignitatem (15-8-1988), s 3: Thiếu n Sion là mt trong các con cái ca con dân Ítraen, Maria chính là người thiếu n y ca dân được chn này...

 

Trong Cựu Ước, có ba sm ngôn ca các tiên tri Giô-en (2,21-27), Xô-phô-nia (3,14-17) và Da-ca-ria (2,14-15; 9,9-10) kêu mi thiếu n Sion hăy vui mng lên v́ Thiên Chúa cư ng gia h; Mt 21,5 và Ga 12,15 áp dng li ca Dacaria cho cuc Đc Giêsu khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem. Nhiu nhà chú gii nhc nh li rng trong văn bn ca Luca, Đc Maria cũng được gic giă đ vui lên: Hăy vui lên, hi ai đy ân sng! (khairê, kêkharitômênê!); cách tế nh, thánh Luca đă son ra mt th miđrash (d ngôn giải thích) đ áp dng các sm ngôn y cho bn thân Đc Maria. Như vy, thánh Luca đng nht hóa Trinh n Nadarét vi Thiếu n Sion, là Giêrusalem mi, tượng trưng cho toàn th Ítraen; nói cách khác, Người là phn kiên trung c̣n li ca Ítraen, Trong Cu Ước, ư nim phn c̣n li(reste, remnant) biu trưng cho ḷng trung thành ca Giavê. Dù Thiên Chúa có pht dân bt trung; nhưng vn c̣n có mt nhóm kiên trung gi Lut, và nh h, mà Thiên Chúa xót thương tt c: xem Ds 14; Is 1,9; 4,3; 6,13; 7,3; Gr 24; Ed 48; Dcr 8,11t; Mk 5,6. hiện thân ca phn dân hèn mn, khiêm h, ch biết cy trông vào ḷng xót thương hi hà ca Thiên Chúa mà thôi (xem Xp 3,12-13): Đc Maria là hin thân cho nim hy vng y ca dân Chúa.

 

Giêrusalem cũng được gi là M ca muôn dân. V́ bt trung vi Giao Ước, dân Ítraen b phát tán (xem Đnl 4,25-27; 28,62-66) và tr thành con cái tn mác ca Thiên Chúa. Khi thi lưu đày kết thúc, Thiên Chúa đoàn t h li, và ha s tuôn đ Thn Khí ca Ngài trên họ, làm cho h nhn biết Ngài là Thiên Chúa ca h (Ed 39,26-29); hơn na, Giavê cho dân ngoi gia nhp cng đng Ítraen và được th phượng Ngài (Is 14,1: 60,3t): Ngày y, đông đo các quc gia s quyến luyến Giavê, và h s là dân ca Ta, và Ta s u ng gia ngươi (Dcr 2,15). Như vy, thành Giêrusalem được coi như là ḷng d người m vi Đn Th làm ngun sng cho vô s con cái đến phng t Thiên Chúa duy nht (xem Is. 60,1-9; Tv 87; Tb 13,11-13).

 

Những h́nh bóng y được áp dng cho Đc Kitô và Mẹ ca Ngài. Theo Gioan, Đc Giêsu chết là đ thâu hp các con cái tn mác ca Thiên Chúa, c Do thái ln dân ngoi (Ga 11,51-52), v́ nhng ai đón nhn Ngài, th́ được quyn làm con Thiên Chúa (1,12); h tp hp trong thành Giêrusalem mi, mà thánh Phaolô gọi là Giêrusalem trên cao, m chúng ta (Gl 4,26). Trong Giêrusalem này, Đn th là chính Chúa Kitô (xem Ga 2,19-22; Kh 21,22). Con cái ca Giêrusalem mi là các môn đ ca Đc Giêsu. Và như tiên tri đă tng nói vi Giêrusalem cũ là: Hăy nh́n các con cái ngươi được thu hp t nơi mt tri ln cho ti nơi mt tri mc (Br 5,5; x.4,37; Is 60,4), th́ Đc Kitô cũng nói vi M ḿnh là: Hi bà, này là con bà (Ga 19,26-27), li mà truyn thng hng không ngng hiu là có ư nghĩa ch v s vic Đc Maria là M ca toàn thể các môn đ Đc Giêsu, ca toàn th Giáo hi vy. Nhng tước hiu ca bà m Giêrusalem xưa kia, bây gi được áp dng cho bà m Maria. Trong tông thư Ineffabilis Deus (8-12-1854), khi minh đnh tín điu Đc Maria đă được th thai vô nhim nguyên ti, Đức Piô IX cũng đă nhc li v s vic các Giáo Ph thường dùng li ca các tiên tri mà gi Đc Maria vi nhiu danh hiu khác nhau, như B câu trng bch, Giêrusalem thánh thin, Ngai cao tinh tuyn ca Thiên Chúa, v.v...

 

Qua bài ca Magnificat, Đức Maria không chỉ cm t v́ nhng k công Thiên Chúa đă thc hin nơi Người, mà c̣n trong c toàn b lch s ca Ítraen na. Bài ca y đi song song vi bài ca ca bà Anna trong Cu Ước (1Sm 2,1-10): phn mt (Lc 1,46-50) đ cp đến t́nh trng bn thân Đc Maria; c̣n phần hai (Lc 51-55) th́ nói lên nhng li ca người Thiếu n Sion cánh chung, tc là xác nhn cho thy rng nhng ǵ dân Chúa hy vng mong ch by lâu, đă tr thành hin thc nơi ḿnh: Chúa đ tŕ Ítraen, tôi t ca Ngài, như đă ha cùng cha ông chúng ta... Từ nay, nhng ai là hèn kém, khiêm h, đói nghèo s nh́n đến và ca khen N t này, v́ nhng vic k diu Chúa đă làm cho Người.

 

C. Theo Kinh Thánh, Đức Maria là người ph n tuyt vi.

 

Đức Gioan Phaolô II thường dùng danh tước người Ph N ca Kinh Thánh mà chỉ v Đc Maria, và đă đc bit căn c theo St 3,14; Ga 2,4; 19,26, đ tóm kết tư tưởng ca ngài như sau: S hin din đc bit ca M Thiên Chúa trong mu nhim Hi Thánh, làm cho chúng ta nghĩ đến mi liên h đc trưng gia người `ph n' này và toàn thể gia đ́nh nhân loi. Mulieris Dignitatem, s 2.Lch s cu chuc bt đu ti trong vườn đa đàng, vi li ha: Ta s đt hn thù gia ngươi và người ph n, gia ḍng ging ngươi và ḍng ging bà. Ḍng ging bà s đp đu ngươi, c̣n ngươi th́ sẽ táp li gót chân (St 3,15). Theo nghĩa đen, li này nói v người ph n Evà và ḍng ging bà, tc là v nhng con người s trung thành theo đường li Chúa và nh thế, s thng được các lc lượng ti ác. Trong bn dch Hy lp (LXX), ḍng ging dùng số ít, mun ám ch v mt cá nhân; c̣n bn dch Aram ca targum Palestin th́ hiu ḍng ging y là Ítraen trung kiên gi Lut Môsê. Trong Tân Ước, sách Khi huyn, chương 12, đă đc li đon St 3,15 theo ánh sáng ca Kitô hc và Giáo hi hc: con rn là ma quỷ (Kh 12,9), c̣n ḍng ging ca Bà là nhng k nm gi lnh truyn ca Thiên Chúa và mang nơi ḿnh du chng ca Đc Giêsu (12,17). Tác gi tŕnh t v người ph n đang thai nghén và kêu la đau đn v́ qun qui sinh con (12,2); con trai Bà đă sinh ra được ct bng lên nơi Thiên Chúa (12,5). Đó là ai? Các nhà chú gii so sánh đon này vi Ga 16,21-22, và kết lun rng: Bà đau đn sinh con tượng trưng cho mu nhim Vượt qua, gi ca Đc Kitô chu chết và sng li. Hơn na, theo Công v các Tông đ, Giáo hội đă dùng các Tv 2 và 110 đ gii thích rơ v mu nhim phc sinh; thế th́, ging như các câu m đu Tv 2,8.9 và 110,1, Kh 12,5 ch v Đc Kitô lên Tri vinh hin. U. Vanni c̣n đ ngh mt cách gii thích khác: Bà sinh con y là mi mt cng đng kitô trong lịch s, đang chu kh gia nhng gian truân bách hi, đ sinh ra Đc Kitô cho xă hi (xem Kh 12,13-18). Ugo Vanni, La decodificazione del `grande segno' in Apocalisse 12,1-6 trong Marianum 40 (1978) 121-152.

 

Trong h́nh ảnh người ph n Khi huyn y, có c̣n chỗ cho Đc Maria hay không? Truyn thng ca Giáo hi đă tr li là có. Đc Gioan Phaolô II minh nhiên áp dng du l vĩ đi trên tri trong sách Khi huyn cho Đc M hn xác lên tri, như vn đc thy trong ca nhp l ngày 15 tháng 8. Xem Redemptoris Mater, số 50. Thn hc th́ nêu rơ nhng đim sau đây: a) Nếu Bà ca Kh 12 ám ch v gi ca Đc Kitô, th́ cũng cn phi nh rng bên cnh thp giá, trong gi y, đă có Đc Maria đng đó cùng vi môn đ du yêu đi din cho các môn đ ca Chúa; b) Bà có mặt tri bao quanh tt s làm cho liên tưởng đến và tht s có liên quan vi Đc Trinh N đy ơn sng (Lc 1,28), Người Trinh n có t́nh yêu ca Mt Tri công chính là Thiên Chúa bao ph; c) nếuu Bà sinh con ca Kh 12 ám ch dân Chúa, là dân đă sinh ra Đấng Thiên Sai, th́ trong lch s, chính Đc Maria, người Thiếu N Sion, đă thc s sinh h Đng Mêsia; thế nên, biu tượng y cũng có th ch v người n đang sinh Con ti Bêlem; d) nếu Bà đau đn y tượng trưng cho các tín hu phi chu kh v́ đc tin, th́ Đức Maria, người đă tin trước hết và mt cách đc thù, cũng đă chu lưỡi gươm đâm thâu (Lc 2,35), v́ ḷng tin y có khi đă không hiu thu được thân phn ca Con ḿnh (xem Lc 2,48-50); e) Kh 12,1t tượng trưng cho Giáo hi b áp bc; nhưng cũng đng quên rằng Đc Maria là phn t đc trưng ca Giáo hi Giêrusalem (Cv 1,14), mt Giáo hi đă phi chu truy hi rt sm (Cv 4,4t; 5,17t; 6,9t,vv); f) cui cùng, mi mt ln nh́n lên m-Giáo hi, hin thê ca Con Chiên và là Giêrusalem trên tri (Kh 21,1t), là hiển nhiên trong h́nh nh y, bao gi người tín hu cũng nhn ra bóng dáng Đc M hn xác lên tri, đi din cho toàn b cng đoàn tín hu kitô bên ngai Thiên Chúa.

 

Như thế, Đc Maria là người ph n ca thi khi nguyên cũng như ca lúc kết cc chương tŕnh cứu chuc. Và c nơi tâm đim ca chương tŕnh đó na, cũng vn có mt ca người ph n y. Trong thư gi giáo đoàn Galata, thánh Phaolô viết: Khi thi gian ti hi viên măn, Thiên Chúa đă sai Con ḿnh đến, sinh làm con ca mt người ph n... (Gl 4,4). Như vy, Kinh Thánh đă mun ám ch đến vai tṛ ca Đc Maria theo tư cách là ph n, trong công tŕnh cu ri ca Đc Kitô. Phúc Âm thánh Gioan nêu rơ vic can thip ca người ph n (Ga 2,4) bên cnh Đc Kitô ti Cana, khi Ngài bt đu cuc đi công khai, và cho thấy vic can thip y làm cho gi ca Đc Kitô dù chưa ti lúc đến, th́ cũng đă phi đến trước k hn; ri mt khi gi đă ti tht s và công tŕnh đă hoàn tt (Ga 19,30), th́ Ngài phó thác môn đ yêu du (tượng trưng cho toàn th cng đoàn kitô) cho bà (câu 26). Đă đành, đó là một vai tṛ làm trung gian; nhưng, nếu đă nhn mnh nhiu như thế đến tính cách bà, th́ chc hn Kinh Thánh mun nêu bt cho thy n tính chính là đc đim ca vai tṛ Đc Maria đóng gi trong phương án ca Thiên Chúa. Và có lẽ v́ n tính thường mang phm cht thi v, cm th, trc giác, hơn là duy lư, cho nên các đon văn ám ch v Đc Maria thường được cu kết theo th dng bóng by, đa nghĩa, hàm ư, và nhng kết lun thn hc th́ thường được rút ra t nhng cm nhn trc nghiệm hơn là t cách thc suy din cht ch. Đúng như Đc Gioan Phaolô II nhn đnh, Đc Maria là người ph n đi din và nguyên mu ca toàn th nhân loi: là bn th ca chính nhân tính mà hết thy mi con người trong nhân loi đu có chung ...Mulieris Dignitatem,số 4; nhưng đàng khác, Người cũng là biu tượng nêu cao n tính ca chính Thiên Chúa.

 

Mẹ Đng Trinh

 

Trong lănh vực này, tín điu căn bn là chính mnh đ sau đây ca kinh Tin kính: [Đc Kitô] đă sinh ra nh Chúa Thánh Thn, bi Đc Trinh N Maria (DS 10: ...natus est de Spiritu Sancto ex Maria virgine). Đức Maria là M ca Đc Giêsu: đó là điu hin nhiên. Nhưng hơn na, Giáo hi li c̣n tin rng Người là M Thiên Chúa, và là M đng trinh.

 

Mẹ Thiên Chúa

 

Lời chào ca s thn Gabriel báo cho biết là hài nhi sp sinh ra s được gi là Đng Thánh, là Con Thiên Chúa (Lc 1,35); nói cách khác: là Đng Thiên sai, Đng Mêsia. Nhng tước hiu cao c (câu 32) và thánh (c.35) ch v tính cht siêu vit, cũng như li ca bà Êlidabét tht lên thân mu Chúa tôi (c.43): tất c đu làm cho đc gi kitô hiu rng Đng y phi là mt Đng cao c hơn V thiên sai Do thái. Giáo hi hng suy nghim như thế này: Đc Maria là m ca Đc Giêsu; mà Đc Giêsu là Thiên Chúa; thành th Đc Maria là M Thiên Chúa. Liên hệ mẹ con là liên h ca ngôi v đi vi ngôi v, ch không phi là liên h gia hai bn tính: mt người m không phi là m ca xác th hoc ca bn cht con ḿnh, nhưng là m ca chính cá nhân người con; cũng vy, Đc Maria là M ca Đc Giêsu, là Ngôi Li, là Ngôi Hai trong Tam Vị Thiên Chúa, là M Thiên Chúa vy. Đ ng đi vi lc giáo Nestôriô, công đng Êphêsô (năm 431) đă đnh tín Đc Maria là M Thiên Chúa, và đă dùng đến mt tĩnh t nghe qua hơi chói tai là theotókos (sinh Thiên Chúa) hu nhn mnh đến chân lư y. DS 251; sau đó, tín điu đă được công đng Canxêđôn nhc li (DS 301), cũng như đă được công đng Vaticanô II tŕnh bày trong Hiến chế tín lư v Giáo hi, chương VIII. Xin xem thêm thông đip Redemptoris Mater, s 4, 31-32, và tông thư Mulieris Dignitatem, số 4. Đó là tín điu đc trưng ca Giáo hi công giáo c bên Tây ln bên Đông phương. Xem A. Kniazeff, La Mère de Dieu dans l'Église Orthodoxe, Paris, Cerf 1990.

 

Trong thời đi chúng ta, đ tránh nhng ng nhn bt li t phía các anh chị em không công giáo, có lẽ tt hơn là nên dùng danh hiu M Đc Kitô hơn là danh hiu M Thiên Chúa. Nhưng thế nào đi na, th́ cũng phi ư thc rng các đc ân đc quyn hết thy ca Đc Maria đu phát nguyên t ngun sui thiên chc làm M Thiên Chúa, và nếu chúng ta có tán dương, chúc tng, có kêu khn đến Người, th́ chính v́ Thánh Maria là Đc M Chúa Tri vy.

 

Đồng Trinh

 

Ngày nay mà nói về mt người m đng trinh, th́ s gp phi vn nn phn ng nhiu hơn là ngày trước. Vic trinh sn xem có v thn thoại, và nhng người chng đi thường nêu lên không biết bao nhiêu là trường hp tương t gp thy trong lch s các tôn giáo. Ngày xưa, Pharaô, vua Ai cp, cũng đă t xưng là Con Tri; có truyn k li rng Zôrôastrô, v sáng lp bái ho giáo, cũng đă sinh ra từ mt người m đng trinh; ri truyn thuyết v Đc Pht cũng tŕnh thut tương t như thế; c̣n v Đc Giêsu th́ sao? Các bài tường thut ca Tân Ước th́ đă kết tinh ngay khi nhiu người tng quen biết Đc Giêsu trước kia vn c̣n sng: khó mà gi mạo được. Các tác gi tŕnh thut đu là người Do thái, đu quan nim v mt Thiên Chúa hoàn toàn siêu vit, không th nào ḥa ln vi to vt được; hơn na, h gm ghét nhng chuyn thn thoi, coi đó như là nhng ǵ đáng ghê tm; mu mc ca h là lch s Cựu Ước: nhưng trong Cu Ước th́ chng có mt trường hp nào nói v mt người m đng trinh c, và quan trng hơn na không mt li tiên tri nào, không mt nim hy vng nào mang bóng dáng ám ch ti s vic người m ca Đng Thiên sai s là đng trinh. Vy, sở dĩ h đă tŕnh thut như thế, th́ chính là v́ h đă đích thân nghe tn tai, thy tn mt nhng người làm chng như vy.

 

Phúc Âm thánh Luca (1,35t) nói rơ về vic Đc Maria s th thai mt cách k diu: Người nói ḿnh không biết đến, không có (liên hệ với) người nam, nhưng s thn trn an nói rng: Thánh Thn s đến trên Người và quyn năng Đng Ti Cao s rp bóng trên Người, ám ch ti đám mây bao ph Nhà tm vi Ḥm bia giao ước (Xh 40,35); cho nên, điu mà loài người không th làm ni (th thai không có người nam, hoc do mt người n son s), th́ Thiên Chúa có tha sc đ làm (c.37). Có nhng nhà chú gii, sau khi đem so sánh vi Ga 1,13, đă hiu câu 35b: ṭ gennômenon hágion: s sinh ra thánh như là mt li hàm cha ư nghĩa ca s vic sinh sn kiên trinh. I. de la Potterie, Il parto verginale del Verbo incarnato: `non ex sanguinibus..., sed ex Deo natus est' (Gv 1,13), trong Marianum 45(1983) 127-174; xem P. Hofrichter, Nicht aus Blut sondern monogen aus Gott geboren, Echter Verlag, Wuerzburg 1979.

 

Thánh Mátthêu 1,18-25 khẳng đnh rơ ràng rng: trước hết, thánh Giuse không phi là cha đ ca Đc Giêsu, mc du thánh s cho biết Đc Giêsu là con ca Đavít bi ḍng tc ca Giuse (1,16); trong bn gia ph, Mt đă đu đn nêu lên s vic ông này sinh ông nọ; nhưng l thay, khi đến lượt Giuse, th́ Mt không nói tiếp: Giuse sinh..., mà li đi cách nói thành: Giuse là bn ca bà Maria... Và câu 18 c̣n lưu ư rơ hơn na đ nói rng dù đă kết hôn vi nhau, th́ trước khi hai ông bà v chung sng, bà đă có thai do quyền năng ca Chúa Thánh Thn. Dù sau này người ta có gii thích thế nào đi na, th́ không mt ai có th ph nhn được là Mt 1,18t đă thc s khng đnh rơ v đim này. Trong cun ni tiếng mang nhan đ The Virginal Conception and Bodily Resurrection of Jesus, (New York 1973), R.Brown đă kết lun rng nếu ch nghiên cu Kinh Thánh mt cách thun túy khoa hc mà thôi, th́ không th nào gii đáp được vn nn này; nhưng đc tin vn c̣n có chng tá ca truyn thng na. Đáng chú ư na là câu Mt 1,23: Này, trinh nữ s th thai..., trưng dn li Is 7,14. Trong tiếng Hy pri, có t `almah', nghĩa là thiếu n và ám ch ti s vic Abia, v ca vua Akhaz, s th thai làm m ca Êdêkya (2V 18,2); Mt áp dng sm ngôn y cho trường hp ca Đc Kitô, là Emmanuel tht, và dẫn li theo bn LXX đă c ư dch t `almah' ra `parthenos', nghĩa là đng trinh: M ca Đng Emmanuel là mt trinh n.

 

Dù nhận là Trinh n Maria đăă th thai Đc Kitô, th́ trong s cũng c̣n có nhiu người vn không chu nhn Đc M là trn đi đng trinh. Lư do theo họ, là v́ Tân Ước đă nói đến các anh ch em ca Đc Giêsu. Xem các câu: Mc 3,31-32ss; 6,3ss; Cv 1,14; 1Cr 5,5; Gl 1,19. S dĩ Giáo hi tuyên tín v Đc Maria trn đi đng trinh, là v́ t nhng thế h đu tiên, ngay khi nhng người quen biết Đức Giêsu vn c̣n sng, các tín hu kitô đă không ngng tin nhn và tuyên xưng như vy. Trong phng v, Giáo hi dùng t aeiparthenos trong tiếng Hy lp, và t semper virgo trong tiếng Latinh, đ xướng danh Đc M; c hai t y đu có nghĩa là trn đi đồng trinh (xem Vaticanô II, LG 52). Giáo lư ấy đă tng được công đng Cônstan-tinp II chun nhn (năm 552: DS 427) và công đng Latêranô (năm 649: DS 503) tuyên dy. Anh ch em Tân Ước nói ti đây, là anh ch em h, như có th thy rơ trong trường hp ca Giacobê và Giuse (Mt 13,55) là hai người con ca Maria khác (Mt 27,56); ngoài ra, nếu Đc Maria đă có nhng người con khác na, th́ Đc Giêsu s không th làm mt hành đng bt hiếu như thế, tc là phó thác M ḿnh cho Gioan là mt người không phi anh em ruột tht trong gia đ́nh ḿnh. V đim giáo lư này ca Giáo hi, xin xem Giáo Lư Giáo Hi Công Giáo, các s 496-507. Đó là chưa nói ti s vic trong Cu Ước, Abraham đă nói vi Lot, người cháu gi ông bng bác, là: Chúng ta là anh em mà! (St 13,8). Thc ra, đó không phải là mt vn nn đi vi người Châu Á hng quan nim rng: T hi giai huynh đ.

 

Maria: Kẻ đă tin

 

Phúc Âm c̣n muốn cho chúng ta chú ư ti mt đc nét khác ca Đc Maria: đó là ḷng tin. Bà Êlidabét đă thán phc tht lên: Em tht dim phúc v́ đă tin... (Lc 1,45). Hơn c Abra-ham, t ph ca nhng k có ḷng tin, Maria là hin thân ca ḷng tin hoàn ho. Xem Ibid. s 148. Nếu không có đc tin, th́ dù có làm M Thiên Chúa cũng chng được li ích ǵ. Khi mt bà kia kêu lên: Phúc thay bà m đă u mang và cho Thy bú mm!, Đc Giêsu lin tr li ngay rng: Phi, nhưng phúc c̣n ln hơn na cho nhng ai biết nghe và noi gi li ca Thiên Chúa (Lc 11,27-28). Truyn thng thường nhc li li sau đây ca thánh Âugutinô: Khi tin nhn Đng Kitô, th́ Maria có phúc hơn là khi đón nhn xác th ca Đc Kitô. De sancta virginitate, 3.

 

Trân trọng chào mng: Kính mng, hi ai đy ân sng! (kekharitôménê) là thiên s Gabriel vén m cho thy kết qu ca ḷng tin nơi Đc Maria, ca nim tin tưởng đt c nơi Thiên Chúa. Động t kharitóô (kekharitôméneâ là đng tính t quá kh th đng) có nghĩa là làm cho ai đáng được sng ái (xem Ep 1,6); v́ vy, Đc Maria được chào kính như mt người đă được Thiên Chúa thanh luyn, Thánh Sôphrôniô, Oratio II in Annuntiatione, 25, PG 87/3,3248. đă được thánh hóa nói theo l li din đt ca truyn thng nh ơn trinh khiết hu sa son cho Người tr nên M Đng Thiên sai. Li nói rng: tôi không biết đến người nam, đ l thc trng hin sinh ca đi Đc Maria, thc trng sng đng trinh, và v́ tin tưởng vào Thiên Chúa, nên Người ao ước được tiếp tc sng như vy. Ḷng trinh tiết y là biu tượng ca đc tin, ca nim xác tín tin rng chng có ǵ mà Thiên Chúa không làm được (Lc 1,37 đi chiếu vi Mc 9,22); c̣n đc tin nơi Maria là thành quả ca chính ơn sng Thiên Chúa ban, là phn hành đng ca t do con người ng đáp đi vi ơn thánh, là phn con người hp tác vào trong công tŕnh hin thc hóa mu nhim nhp th.

 

Bấy gi Maria mi có th thưa Xin vâng. Li này thâu tóm toàn b kinh nghiệm đc tin ca Cu Ước. Tinh túy ca đc tin Ítraen là thái đ đón nhn giao ước: Sau khi lng nghe Môsê tŕnh bày v các điu khon trong khế ước giáo kết vi Giavê, toàn dân đng thanh đáp thưa: Tt c nhng ǵ Giavê đă phán bo, chúng tôi xin làm theo (Xh 19,8; 24,3.7). Đó chính là lời fiat/xin vâng ca Ítraen, là li đă làm cho dân Ítraen tr nên hin thê đính ước ca Giavê (xem Ed 16,8); và Thiên Chúa ch mun có mt điu duy nht nơi h, là h trung thành gi li th ha y (Đnl 5,28-29). N Giavê đă dùng Môsê làm trung gian mà trao đi giao dch vi Ítraen, th́ Ngài cũng dùng s thn Gabriel làm trung gian đ hi ư Đc Maria. Như xưa kia dân Ítraen đă ng đáp: Chúng tôi xin vâng gi li Ngài đă truyn, Gs 24,24; xem nhng công thc biu đạt tương t như nhau trong Xh 19,8; 24,3.7; Er 10,12; Nkm 5,12v và 1Mcb 13,9. th́ bây gi, người Thiếu N Sion là Maria, hin thân ca Ítraen trung tín, cũng thưa lên: Tôi xin vâng như li s thn truyn, và như thế là giao ước mi khi đu.

 

Tự bn cht, đc tin th́ ti tăm và hng đt tâm trí vào trong t́nh trng t hy (kenosis). Sau nhng ngày Bêlem tràn ngp ánh sáng, Maria bế Con vào Đn Th đ chu tt L Lut (Xh 13,2.11-16): là n t́ ca Chúa th́ phi gi Lut, không vào các đc quyn mà thoái thác; ở đy, Người phi nghe sm ngôn u n c già Symêon nói: Này! Con bà... s làm du gi lên chng đi, và hn bà, mũi gươm s đâm thâu... (Lc 2,34-35). Li kia, li tiên báo mà Đc Gioan Phaolô II gi là li truyn tin th hai cho Đc Maria, Redemptoris Mater, số 16. áp dng cho Đc M sm ngôn ca Êdêkien nói vi Ítraen, Tiên tri lên tiếng chng li Ítraen ti li: Nếu tôi đem gươm đến pht x y và bo: Gươm hăy ro khp x... 14,17. và đ l cho thy hai mt ca đc tin: b mt r